Naganami (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Naganami
Tàu khu trục Naganami khi hoàn tất vào tháng 6 năm 1942.
History
Naval Ensign of Japan.svgNhật Bản
Name: Naganami
Builder: Xưởng đóng tàu Fujinagata
Laid down: 5 tháng 4 năm 1941
Launched: 5 tháng 3 năm 1941
Completed: 30 tháng 6 năm 1942
Struck: 10 tháng 1 năm 1945
Fate: Bị máy bay Hải quân Mỹ đánh chìm ở đảo Leyte, 11 tháng 11 năm 1944
General characteristics
Class and type: Lớp tàu khu trục Yūgumo
Displacement: list error: <br /> list (help)
2.077 tấn Anh (2.110 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (chiến đấu)
Length: list error: <br /> list (help)
117 m (383 ft 10 in) (mực nước)
119,15 m (390 ft 11 in) (chung)
Beam: 10,8 m (35 ft 5 in)
Draft: 3,76 m (12 ft 4 in)
Propulsion: list error: <br /> list (help)
2 × turbine hơi nước hộp số Kanpon
× 3 nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 shp (39 MW)
Speed: 35,5 hải lý một giờ (65,7 km/h; 40,9 mph)
Range: 5.000 nmi (9.260 km; 5.750 mi) ở tốc độ 18 hải lý một giờ (33 km/h; 21 mph)
Complement: 228
Armament: list error: <br /> list (help)
6 × pháo 127 mm 50 caliber Kiểu 3 đa dụng (3×2)
cho đến 28 × pháo phòng không 25 mm Kiểu 96
cho đến 4 × súng phòng không 13 mm (0,51 in)
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 93 610 mm
36 × mìn sâu

Naganami (tiếng Nhật: 長波) là một tàu khu trục thuộc lớp Yūgumo của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, từng hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Naganami được đặt lườn tại Xưởng đóng tàu Fujinagata vào ngày 5 tháng 4 năm 1941, được hạ thủy vào ngày 5 tháng 3 năm 1941 và được đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 6 năm 1942.

Vào ngày 30 tháng 11 năm 1942, trong trận Tassafaronga, Naganami dẫn đầu một đoàn tàu tiếp liệu bằng thùng nổi đến Guadalcanal và đã đụng độ với một lực lượng tuần dương-khu trục Hoa Kỳ. Trong trận chiến diễn ra sau đó, nó có thể đã phóng ngư lôi vào các tàu tuần dương hạng nặng PensacolaNorthampton.

Vào ngày 23 tháng 10 năm 1944, trong Trận chiến vịnh Leyte, Naganami đã hộ tống cho lực lượng tấn công của Đô đốc Kurita Takeo. Nó đã giúp vào việc cứu vớt những người sống sót của chiếc tàu tuần dương Maya, để sau đó chuyển họ sang thiết giáp hạm Musashi, rồi hộ tống tàu tuần dương Takao quay trở lại Brunei. Sang ngày 24 tháng 10 một nhóm đổ bộ được phái sang để khảo sát tàu ngầm Mỹ Darter bị mắc cạn và đã bị bỏ lại. Nhiều vật dụng đã được khảo sát hay tháo dỡ khỏi chiếc Darter bao gồm một khẩu súng máy 50 cal.

Ngày 10 tháng 11 năm 1944, Naganami hộ tống đoàn tàu vận tải chuyển quân TA-3 tiếp cận Ormoc. Nó bị máy bay thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 38 đánh chìm vào ngày 11 tháng 11 trong vịnh Ormoc về phía Tây đảo Leyte, ở tọa độ 10°50′B 124°35′Đ / 10,833°B 124,583°Đ / 10.833; 124.583Tọa độ: 10°50′B 124°35′Đ / 10,833°B 124,583°Đ / 10.833; 124.583. Một vụ nổ ở giữa tàu đã khiến nó bị gảy làm đôi.

Naganami được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 1 năm 1945.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]