Những người trên cửa biển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Những người trên cửa biển là bản trường ca thơ được nhiều nhà phê bình văn học xem là tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành thực sự của một Văn Cao thi sĩ bên cạnh một Văn Cao nhạc sĩ vốn đã nổi tiếng trong giới văn nghệ Việt Nam từ những năm 1940 trở đi. Những người trên cửa biển là một tác phẩm mang ý nghĩa bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác thơ của Văn Cao. Thiên trường ca được viết năm 1956, chứa đựng trong đó nhiều tâm huyết và nhắn gửi của tác giả với bạn đọc thơ ông.

Đã có nhiều quan điểm nghiên cứu đánh giá vai trò tiên phong mở đường của tác phẩm Những người trên cửa biển đối với sự phát triển của thể loại trường ca trong thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn kể từ nửa cuối thập niên 1950 trở đi.[1][2][3]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thiếu Nhơn trong bài viết “Văn Cao trong cõi thơ”[4] đánh giá vai trò bước ngoặt của trường ca với sự nghiệp thơ Văn Cao: “Thử thách thể loại trường ca đòi hỏi sức cảm sức nghĩ phi thường, cũng chính là cơ hội phô diễn một Văn Cao tài năng cồng kềnh. Hít thở không khí xứ sở độc lập tự chủ, Văn Cao khẳng định “có người hàng năm mặt trời không thấy mọc/ khép đùi xếp phách tiễn đêm đi/ hôm nay ngồi chép bài ca mới/ hương cốm mùi rơm ngát giếng đình” để mường tượng hòa bình đích thực “chúng ta sẽ trả về những bà mẹ Pháp/ núi hài cốt cuộc chiến tranh bẩn thỉu/ cũng như những người mẹ chúng tôi/ tiếc những dòng sữa, những cái hôn đã mất” và nghe được những va đập mỏng mảnh “tiếng thức dậy niềm cô đơn nuối tiếc/ những con người gần ánh sáng chưa quen”. Mặt khác, với ý thức kẻ sĩ đau đáu với vận mệnh dân tộc, Văn Cao lập tức cảnh tỉnh “đất nước đang lên da lên thịt/ đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày/ ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải/ đã thấy loài sâu nằm tròn trong cuống”, và không ngần ngại vạch mặt mối hiểm nguy “hãy dừng lại/ những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc/ những tên muốn ôm cây to che cớm mầm non”. Đánh giá một cách cẩn trọng, trường ca “Những người trên cửa biển” đã xác lập một vị trí nhất định trong nền thơ Việt Nam thế kỷ 20, bởi tình yêu mảnh đất “mỗi người dân Hải Phòng thật kiếm ăn từ nhỏ/ mỗi người dân Hải Phòng đều biết đổ mồ hôi” đã dựng được hình tượng nhà thơ Văn Cao chung thủy với thời đại “cuộc đời ôm tôi như trong một cái bình/ một tiếng vang vang cả lòng cả đáy”.”

Thiên Sơn trong bài viết “Nhà thơ Văn Cao, còn những tiếng rạn vỡ”[5] nhận xét về trường ca: “Ngọn lửa thơ của Văn Cao sung sức và bùng cháy nhất chính ở thời điểm ông viết trường ca Những người trên cửa biển năm 1956. Cảm xúc sôi trào. Ý tứ sắc sảo. Câu thơ hoạt. Hình tượng thơ gây nhiều ám ảnh. Từ thời điểm này về trước, Văn Cao thiên về cảm xúc, cảm giác và những hình ảnh lãng mạn. Sau thời điểm này, Văn Cao chuyển dần sang ẩn dụ, tượng trưng với những hình ảnh biểu tượng hết sức sâu sắc và những suy tư mang nhiều cay đắng. Cuộc đời Văn Cao, có thể nói, cũng gặp phải những bước ngoặt ngặt nghèo từ sau khi viết trường ca Những người trên cửa biển. Trước đó, là một đoạn đời nhiều xiêu dạt, hào hùng, lãng mạn. Sau đó là những năm tù túng, bị trói buộc và chìm trong ưu tư triền miên. (...) Trở lại với thời điểm bước ngoặt trong thơ Văn Cao, chính là khi ông viết trường ca Những người trên cửa biển. Ở trường ca này, Văn Cao lấy Hải Phòng làm một hoán dụ như “Việt Nam thu nhỏ”. Hải Phòng hiện lên trong thác lũ của chiến tranh và trong mơ ước nhào nặn lại hình hài của mình vươn đến cuộc sống mới. Và cũng chính ở đây, bên cạnh những thành công và mơ ước, Văn Cao đã không ngại ngần đề cập đến những hiểm họa khó trừ trong hàng ngũ những người cách mạng.”

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khuất Bình Nguyên, Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc…. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/10/2013). Trích dẫn tác giả: "Những người trên cửa biển mở đầu cho vụ mùa thu hoạch trường ca của thi ca Việt Nam nửa sau thế kỷ 20. Đặc biệt trong và sau những năm chống Mỹ cứu nước, thơ Việt Nam đi đến một tầm vóc mới ở sự ra quân rầm rộ của nhiều bản trường ca."
  2. ^ Khuất Bình Nguyên, Trường ca nửa sau thế kỷ XX. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 9/1/2016). Trích dẫn tác giả: "Từ đêm mười chín được Khương Hữu Dụng viết từ 1947–1948. Với 672 dòng thơ. Như là sự mở đầu của nửa thế kỷ trường ca. (...) Nếu Từ đêm mười chín Xuân Diệu còn cho là sử dụng thể thơ cổ phong giống một bài phú thì Những người trên cửa biển của Văn Cao và Tiếng hát người quan họ của Hoàng Cầm cùng viết năm 1956 đã mở đầu cho kết cấu mới của trường ca thời hiện đại. Những người trên cửa biển nhìn nhận lại một chặng đường lịch sử của dân tộc qua không gian cảng Hải Phòng từ những ngày động biển khi những mái nhà xưa đếm lại thiếu người để nghẹn ngào những ngày báo hiệu mùa xuân. Những người trên cửa biển với 531 câu được triển khai theo lối kết cấu mới của trường ca không dựa vào một cốt truyện cụ thể mà lấy bối cảnh lịch sử rộng lớn để tổ chức và lan tỏa những cảm xúc và hình tượng thơ."
  3. ^ Đỗ Quyên, Đến sự hiện đại hóa thơ Việt từ “trường phái trường ca Việt”. (Báo Văn nghệ Thái Nguyên, 06/06/2017). Trích dẫn tác giả: "...Hiện tượng trường ca Việt Nam có vùng hoạt động trong vòng 40 năm 1960-2000: thời điểm lịch sử 1975 ở quãng giữa với khoảng 15 năm trước và 20 năm sau đó. (...) Dấu mốc 1960 có được do chúng tôi chọn 3 điểm khởi phát của hiện tượng trường ca Việt Nam; đó là tác giả Văn Cao với tác phẩm Những người trên cửa biển - 1956; Hoàng Cầm, Tiếng hát người quan họ - 1956; và Thu Bồn, Bài ca chim Chơ Rao - 1962."
  4. ^ Lê Thiếu Nhơn, Văn Cao trong cõi thơ. (Báo Công an nhân dân điện tử, 27/06/2017)
  5. ^ Thiên Sơn, Nhà thơ Văn Cao, còn những tiếng rạn vỡ. (Trang điện tử Hội nhà văn Hải Phòng, 23/11/2013)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • (1988), tập thơ duy nhất được xuất bản của Văn Cao lúc sinh thời

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]