Noda Yojiro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Noda Yojiro
Radwimps Yojiro Noda.jpg
Yojiro Noda biểu diễn cùng Radwimps tại Zepp Tokyo năm 2015.
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhNoda Yojiro
Nghệ danh
  • Illion
  • Yoji Noda
Sinh5 tháng 7, 1985 (34 tuổi)
Nhật Bản
Nguyên quánTokyo, Nhật Bản
Thể loại
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • Viết bài hát
  • Nhạc sĩ
  • Nhà sản xuất thu âm
  • Diễn viên
Nhạc cụ
Năm hoạt động2001–nay
Hãng đĩaWarner
Hợp tác với
Websiteillion-web.com

Noda Yojiro (野田洋次郎 (Dã Điền Dương Thứ Lang) Noda Yojiro?, sinh 5 tháng 7 năm 1985), là một ca sĩ, người sáng tác nhạc, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Nhật. Noda là giọng ca chính, người chơi guitar và sáng tác nhạc trong ban nhạc rock Radwimps, anh bắt đầu một dự án solo riêng là Illion vào năm 2012.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1985 – 2008: Đầu đời, Radwimps[sửa | sửa mã nguồn]

Noda sinh năm 1985 tại Tokyo, Nhật Bản. Cha anh là doanh nhân và mẹ anh là giáo viên dạy piano.[1] Từ năm sáu lên chín tuổi, Noda sống tại Hoa Kỳ.[1][2] Anh ban đầu thích thú với guitar khi còn ở trung học cơ sở sau khi nghe qua ban nhạc Oasis. Anh đã cố học chơi hợp âm với cây guitar mà gia đình anh sở hữu.[3]

Năm 2001, khi đang học năm nhất tại trung học ở Tōin Gakenman, Yokohama, anh đã tham gia một ban nhạc, mà sau này có tên là Radwimps.[1] Anh tham gia sau khi được một người bạn gợi ý để trở thành hát chính trong ban.[4] Noda là giọng ca chính, người chơi guitar và là nhạc sĩ duy nhất của ban. Anh cùng Radwimps đã phát hành album đầu tay là Radwimps vào năm 2003, ban nhạc sau đó hoạt động dưới hãng thu âm Toshiba EMI vào năm 2005. Năm 2006, ban nhạc trở nên phổ biến tại Nhật Bản, với album thứ tư Radwimps 4: Okazu no Gohan được trao chứng nhận bạch kim.[5]

Năm 2008, anh lần đầu tiên được sản xuất bài hát cho một nghệ sĩ. Noda đã viết và sản xuất ca khúc "Labrador" cho ca sĩ người Nhật Chara, ca khúc trở thành bài hát chính cho album Honey của cô.[6] Năm 2015, Noda đa viết bài hát "Oaiko" (おあいこ?) cho album phòng thu thứ sáu của Hanaregumi, What Are You Looking For.[7]

2012 – nay: Solo[sửa | sửa mã nguồn]

Noda bắt đầu một dự án solo của mình, Illion, vào tháng 11 năm 2012.[2] Album đầu tay của anh là Ubu, đầu tiên phát hành tại Anh vào ngày 25 tháng 5 năm 2013, sau đó tiếp đến là Nhật Bản và Châu Âu.[8] Album gồm hai đĩa đơn, "Brain Drain" vào tháng 1 năm 2003[8] và "Maharoba", vào tháng 2 năm 2013. Noda đầu tiên trình diễn dưới nghệ danh Illion tại O2 Shepherds Bush EmpireLuân Đôn vào 17 tháng 2 năm 2013. Anh cũng trình diễn tại Indra Musikclub ở Hamburg, Đức ngày 19 tháng 3.[9] Anh dự định biểu diễn tại lễ hội âm nhạc rock Tokyo Rocks tại Tokyo ngày 12 tháng 5, nhưng lễ hội lại kết thúc sớm.[10]

Năm 2015, Noda lần đầu dựng nên sự nghiệp diễn viên của anh trong bộ phim Pieta in the Toilet, mà anh đóng vai chính là Hiroshi.[11] Radwimps cũng thực hiện phần nhạc chủ đề của phim là "Picnic" (ピクニック?).[12] Tháng 5, Noda trở thành một nhà văn từ khi anh ra mắt cuốn văn Rarirure-ron, trong thời gian mà RADWIMPS vẫn đang trong chuyến lưu diễn Grand Prix 2014 Jikkyō Namachūkei tại Nhật Bản.[13]

Năm 2016, Noda trở lại với Illion với một loạt buổi hòa nhạc vào tháng 7, bao gồm Fuji Rock Festival, một số buổi ở Tokyo, Osaka và chuyến Illion Japan Tour 2016.[14]

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album và bảng xếp hạng
Tên Thông tin Vị trí cao nhất
JPN
[15]
Ubu
  • Dưới nghệ danh Illion
  • Phát hành: 25 tháng 2 năm 2013
  • Hãng thu âm: Warner
  • Định dạng: CD, tải xuống, LP
7
P.Y.L
  • Dưới nghệ danh Illion
  • Phát hành: 12 tháng 10 năm 2016
  • Hãng thu âm: Warner
  • Định dạng: CD/DVD, tải xuống, LP
8

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn và bảng xếp hạng
Tên Năm Vị trí cao nhất Album
Billboard Japan Hot 100
[a]
"Brain Drain"[19]
(Illion)
2013 30 Ubu
"Mahoroba"[20]
(Illion)
27
"By My Side" (バイ・マイ・サイ Bai Mai Sai?)[b]
(Yojiro Noda (Radwimps) / Taka (One Ok Rock)
2016 46 Không nằm trong album nào
"Water Lily"[22]
(Illion)
P.Y.L
"Hilight"[23]
(Illion hợp tác cùng 5lack)
"Told U So"[24]
(Illion)
"Miracle"[25]
(Illion)
2017
"—" là không có vị trí trên bảng xếp hạng.

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai
2015 Pieta in the Toilet (トイレのピエタ Toire no Pieta?) Hiroshi
2017 Million Yen Women (TV) (100万円の女たち 100 Manen no Onna-tachi?) Shin Michima
2018 Đảo của những chú chó News Anchor (giọng)
2018 Nakimushi Shottan no Kiseki (泣き虫しょったんの奇跡?) Yuya Suzuki

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguồn vị trí xếp hạng của ba đĩa đơn đầu: "Brain Drain",[16] "Mahoroba",[17] "By My Side".[18]
  2. ^ Ban đầu phát hành trên đĩa đơn mặt B "Setsuna Rensa" của Radwimps từ năm 2006, sau đó nó được thu âm lại lần nữa để làm đĩa đơn từ thiện gây quỹ cho trận động đất Kumamoto năm 2016.[21]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu
  1. ^ a ă â “?”. Rockin' on Japan (bằng tiếng Nhật) (Tokyo, Nhật Bản: Rockin' On). tháng 2 năm 2007. 20 tháng 2 năm 2007. 
  2. ^ a ă “Meet Yojiro Noda - Tokyo's Answer To Thom Yorke”. Mark Beaumont. NME. 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ “RADWIMPS 特集”. Neowing (bằng tiếng Nhật). 2006. Truy cập 25 tháng 2 năm 2019. 
  4. ^ “Biography”. RADWIMPS.jp (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 1 năm 2006. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  5. ^ ゴールド等認定作品一覧 2007年09月. RIAJ (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 10 năm 2007. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  6. ^ ブームいつまで!? 羞恥心の2曲目はふられた女の子への応援ソング. RBB Today (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  7. ^ ハナレグミ、8/19にニュー・アルバム『What are you looking for』をリリース決定。野田洋次郎(RADWIMPS)らが楽曲提供. Skream! (bằng tiếng Nhật). 7 tháng 7 năm 2015. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  8. ^ a ă “RADWIMPSのヴォーカル野田洋次郎、illionとして世界進出”. Barks (bằng tiếng Nhật). 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  9. ^ “野田洋次郎ソロ・illion初ライブでUKオーディエンス魅了”. Natalie (bằng tiếng Nhật). 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  10. ^ “マイブラ、BLURら出演フェス「TOKYO ROCKS」中止に”. Natalie (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 3 năm 2013. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  11. ^ “RAD野田主演映画に大竹しのぶ&宮沢りえ”. Natalie (bằng tiếng Nhật). 6 tháng 2 năm 2015. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  12. ^ “RADWIMPS、野田主演映画「トイレのピエタ」主題歌シングルリリース”. Natalie (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 4 năm 2015. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  13. ^ “野田洋次郎、初のエッセイ本「ラリルレ論」で映画出演の心境明かす”. Natalie (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 4 năm 2015. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  14. ^ “RADWIMPS野田ソロプロジェクト・illion再始動、フジロック&東阪ライブ決定”. Natalie (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 3 năm 2016. Truy cập 25 tháng 4 năm 2019. 
  15. ^ “illionの作品”. Oricon. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  16. ^ “Japan Billboard Hot 100”. Billboard (bằng tiếng Nhật). 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  17. ^ “Japan Billboard Hot 100”. Billboard (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 3 năm 2013. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  18. ^ “Japan Billboard Hot 100”. Billboard (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 5 năm 2016. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  19. ^ “野田洋次郎ソロプロジェクトillion、初アルバム『UBU』から収録曲配信スタート” (bằng tiếng Nhật). Cinra. 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  20. ^ “illion、新曲「MAHOROBA」のミュージック・ビデオを公開!&本日よりiTunes UK & JAPANでシングル先行配信!” (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. 6 tháng 2 năm 2013. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  21. ^ “RADWIMPS野田洋次郎、Takaと歌う「バイ・マイ・サイ」で被災地支援” (bằng tiếng Nhật). Natalie. 28 tháng 4 năm 2016. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  22. ^ “野田洋次郎ソロプロジェクトillion、初アルバム『UBU』から収録曲配信スタート” (bằng tiếng Nhật). Cinra. 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập 29 tháng 1 năm 2017. 
  23. ^ “【7"シングルレコード】Hilight feat.5lack<限定盤>” (bằng tiếng Nhật). Tower Record. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  24. ^ “Told U So” (bằng tiếng Nhật). Mora. 30 tháng 9 năm 2016. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 
  25. ^ “illion「Miracle」を世界配信、国内ではアルバム全曲ストリーミング配信開始” (bằng tiếng Nhật). Natalie. 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập 24 tháng 4 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]