Nona Gaprindashvili

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nona Gaprindashvili
ნონა გაფრინდაშვილი
Nona Gaprindaschwili 1982 Kissingen.jpg
Nona Gaprindashvili tại Bad Kissingen, 1982
Quốc giaLiên Xô
Gruzia
Sinh3 tháng 5, 1941 (78 tuổi)
Zugdidi, Xô viết Gruzia, Liên Xô
Danh hiệuĐại kiện tướng
Vô địch nữ1962–78
Hệ số Elo2275 (7.2019)
Elo cao nhất2495 (7.1987)
Xếp hạng cao nhấtHạng 1 nữ (7.1971)

Nona Gaprindashvili (tiếng Gruzia: ნონა გაფრინდაშვილი; sinh 3 tháng 5 năm 1941) là một kỳ thủ cờ vua Gruzia, nhà vô địch nữ thứ sáu (1962–1978) và là kỳ thủ nữ đầu tiên đạt được danh hiệu đại kiện tướng. Bà là kỳ thủ nữ mạnh nhất trong thế hệ của mình.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Gaprindashvili sinh tại Zugdidi, Gruzia (thời điểm đó thuộc Liên Xô). Năm 1961, ở tuổi 20, Gaprindashvili vô địch Giải lựa chọn ứng viên nữ lần thứ tư, giành quyền vào thi đấu với nhà đương kim vô địch người Nga Elisabeth Bykova. Bà giành chiến thắng dễ dàng với tỉ số chung cuộc 9–2 (+7 =4), không thua ván nào. Sau đó bà đã bốn lần bảo vệ thành công ngôi vị vô địch thế giới: ba lần trước Alla Kushnir (1965: 10–6; 1969: 12–7; 1972: 12–11) và một lần trước đồng hương Gruzia Nana Alexandria (1975: 9–4). Năm 1978 bà mất ngôi nữ hoàng cờ sau khi thua một kỳ thủ trẻ khác mới 17 tuổi của Gruzia là Maia Chiburdanidze với tỉ số 6½–8½ (+2 −4 =9).

Gaprindashvili thi đấu cho Liên Xô tại các Olympiad cờ vua 1963, 1966, 1969, 1972, 1974, 1978, 1980, 1982, 1984, 1986, 1990 và cho Gruzia năm 1992[1]. Bà là một trong những kỳ thủ đóng góp chính giúp đội tuyển Liên Xô thống trị các Olympiad cờ vua trong thập niên 1980. Bà giành được tổng cộng 25 huy chương, trong đó có 11 huy chương vàng đồng đội và 9 huy chương vàng cá nhân[2]. Tại Olympiad Dubai 1986 bà toàn thắng cả 10 ván đấu.

Gaprindashvili từng năm lần vô địch Liên Xô các năm 1964, 1973, 1981, 1983 và 1985.

Trong sự nghiệp của mình Gaprindashvili có những thành công khi tham gia các giải đấu mở (với sự tham dự của các kỳ thủ nam). Bà vô địch giải Hastings hạng Challengers năm 1963/64 và đồng hạng nhất tại Giải cờ vua quốc tế Lone Pine năm 1977.

Năm 1978 Gaprindashvili là phụ nữ đầu tiên được phong danh hiệu đại kiện tướng. Bà đạt được danh hiệu này sau khi có được hai chuẩn đại kiện tướng với tổng cộng 23 ván đấu. Chuẩn thứ hai đạt được tại giải Lone Pine năm 1977 với tổng cộng 45 kỳ thủ tham dự, phần lớn là đại kiện tướng. Mặc dù danh hiệu đại kiện tướng thời điểm đó yêu cầu phải đạt được qua 24 ván đấu, sau khi có được chuẩn tại in Lone Pine, FIDE đã công nhận 23 ván đấu của bà tương đương với 24 ván theo quy định và trao cho bà danh hiệu đại kiện tướng, khiến bà trở thành phụ nữ đầu tiên có danh hiệu đại kiện tướng cờ vua[3].

Năm 1975 bà có một loại nước hoa mang tên mình.

Năm 1995 Gaprindashvili vô địch lão tướng thế giới nữ ở giải đầu tiên. Bà cũng vô địch các năm 2009, 2014, 2015 và 2016. Ba giải gần nhất ở hạng tuổi trên 65. Bà giành chức vô địch lão tướng châu Âu nữ các năm 2011 và 2015.

Năm 2005, ở tuổi 64, Gaprindashvili vô địch giải cờ vua BDO tổ chức ở Haarlem, Hà Lan với điểm số 6,5/10 và hiệu suất thi đấu 2510[4].

Gaprindashvili được tổng thống Gruzia Giorgi Margvelashvili trao tặng Huân chương Xuất sắc năm 2015 vì "những đóng góp vượt trội của bà cho đất nước và dân tộc" và "đại diện Gruzia ở tầm mức quốc tế"[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “OlimpBase: Women's Chess Olympiads, Nona Gaprindashvili (Thành tích của Nona Gaprindashvili tại các Olympiad cờ vua nữ)”. OlimpBase. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017. 
  2. ^ Chỉ có đồng hương Maia Chiburdanidze có được nhiều huy chương hơn: 28 huy chương trong 15 Olympiad (15 cá nhân và 13 đồng đội, trong đó có 15 vàng).
  3. ^ Pal Benko viết trong tạp chí Chess Life & Review (tháng 1 năm 1979):
    ...Tất nhiên (Nona) đã giành được danh hiệu "đại kiện tướng nữ" do Liên đoàn cờ vua quốc tế (FIDE) trao tặng, cũng như một số nữ kỳ thủ khác. Nhưng cô ấy cũng đạt được danh hiệu kiện tướng quốc tế (nam), trở thành người phụ nữ đầu tiên đạt được thành tích ấy, dù (Vera Menchik cũng có thể đủ mạnh để đạt được danh hiệu này. Tiếc là bà ấy đã qua đời năm 1943, rất lâu trước khi hệ thống danh hiệu ngày nay được áp dụng), và tại Buenos Aires tháng 11 năm 1978 FIDE đã phong cho Nona Gaprindashvili danh hiệu đại kiện tướng (nam). Cô ấy không chỉ là phụ nữ duy nhất cho đến nay có được danh hiệu này, mà còn là phụ nữ duy nhất cho đến nay xứng đáng với danh hiệu đó.
    Tuy nhiên, đáng tiếc là cô ấy đã không thực sự giành được danh hiệu theo cách thông thường: FIDE yêu cầu rằng để đạt được danh hiệu đại kiện tướng, một kỳ thủ phải có đạt chuẩn tại các giải đấu với tổng cộng 24 ván đấu trở lên (lời miêu tả này đã được làm đơn giản đi nhiều, nhưng vẫn giữ ý chính), và Nona có ít hơn hai ba ván gì đó. Ủy ban xét chuẩn của FIDE đã bỏ phiếu để trao cho cô ấy danh hiệu. Theo tôi, sự kiện lịch sử này không nên có ngay cả một khiếm khuyết nhỏ.
  4. ^ Frits Agterdenbos (10 tháng 9 năm 2005). “Nona Gaprindashvili wins BDO Chess Tournament Haarlem (Nona Gaprindashvili vô địch Giải cờ vua BDO Haarlem)”. ChessBase. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017. 
  5. ^ “Order of Excellence to Nona Gaprindashvili (Huân chương Xuất sắc cho Nona Gaprindashvili)”. FIDE. 29 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Elisabeth Bykova
Nhà vô địch cờ vua nữ thế giới
1962–1978
Kế nhiệm:
Maia Chiburdanidze