Oleh Tyahnybok

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Oleh Yaroslavovych Tyahnybok
Oleh Tyahnybok September 2014.jpg
Chức vụ
Lãnh đạo Liên đoàn toàn Ukraina "Svoboda"
Nhiệm kỳ14/02/2004 – 
Tiền nhiệmYaroslav Andruschkiv
Thông tin chung
Sinh7 tháng 11, 1968 (50 tuổi)
Lviv, Ukraina, Liên Xô
Nghề nghiệpBác sĩ niệu học, chính trị gia
Tôn giáoCông giáo Hy Lạp Ukraina
Đảng pháiĐảng Svoboda
Con cáiJaryna-Maria (1992)
Daryna-Bohdana (1995)
Hordiy (1997)
Trang webhttp://www.tyahnybok.info/

Oleh Yaroslavovych Tyahnybok (tiếng Ukraina: Оле́г Яросла́вович Тягнибо́к, sinh 7/11/1968) là một chính trị gia Ukraina, nhà lãnh đạo của đảng chính trị dân tộc cực hữu Svoboda [1][2]. Ông từng là một thành viên của Verkhovna Rada (Quốc hội Ukraina), và cũng được bầu là ủy viên Hội đồng tỉnh Lviv nhiệm kỳ thứ hai [3].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Oleh Tyahnybok sinh ở thành phố Lviv trong một gia đình bác sĩ, và chính ông cũng là bác sĩ [4][5]. Cha là Yaroslav Tyahnybok, một bác sĩ công huân Ukraina, bác sĩ thể thao, bác sĩ trưởng của đội quyền Anh quốc gia Liên Xô, cũng là võ sĩ quyền anh đã đạt danh hiệu Kiện tướng thể thao Liên Xô [6]. Ông cố Oleh là một người anh em của Lonhyn Tsehelsky, một chính trị gia ở Cộng hòa Nhân dân Tây Ukraina [4]. Oleh Tyahnybok nói ông nhớ khi nhỏ ông đã chứng kiến các nhân viên của KGB lục soát trong căn hộ của gia đình.

Oleh Tyahnybok theo học Học viện Y khoa Lviv, và được nhận làm bán thời gian như một y tá, nhưng sau năm thứ hai thì nhập ngũ. Sau khi trở về học viện, ông khởi xướng thành lập "Med Institute Student Brotherhood" - bước đầu tiên trên con đường hoạt động dân sự. Tyahnybok tốt nghiệp học viện năm 1993 như là một bác sĩ phẫu thuật có trình độ (như ông đôi khi đề cập, chuyên khoa tiết niệu). Năm 1994 khi 25 tuổi Tyahnybok được bầu vào Hội đồng tỉnh Lviv, và năm 1998 được bầu vào Verkhovna Rada.

Hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10/1991 Tyahnybok gia nhập Đảng Quốc xã Ukraina (tiếng Ukraina: Соціал-національна партія України, SNPU) [7]. Ông được mô tả như là đại diện của cánh Ukraina cực hữu. Từ năm 1994 đến năm 1998, Tyahnybok là thành viên Hội đồng tỉnh Lviv [8]. Năm 1998, Tyahnybok lần đầu tiên được bầu vào Verkhovna Rada với tư cách thành viên Đảng Quốc xã Ukraina [7]. Trong quốc hội ông là thành viên của phái Phong trào nhân dân Ukraina (tiếng Ukraina: Народний Рух України, Narodnyi Rukh Ukrajiny) [7].

Năm 2002, Tyahnybok tái đắc cử Verkhovna Rada như một thành viên "khối Ukraina của chúng ta" của Victor Yushchenko. Ông đã trình 36 dự luật lên quốc hội cho tranh luận, nhưng chỉ thông qua bốn. Phần lớn dự luật này là vấn đề: phản đối sự duy trì tiếng Nga như là ngôn ngữ chính thức nhà nước thứ hai; đề nghị công nhận vai trò chiến đấu của Tổ chức Quốc dân UkrainaQuân đội nổi dậy Ukraina trong Thế chiến thứ 2; kêu gọi cho lễ tẩy uế (quy định về sự tham gia chính trị) cho các quan chức trước đây là cộng sản và nhân viên an ninh mật vụ; và yêu cầu lệnh cấm của hệ tư tưởng cộng sản. Tuy nhiên chúng không được thông qua [9].

Ngày 20/07/2004 Tyahnybok bị trục xuất khỏi khối Ukraina của chúng ta [7][10], sau khi ông có bài phát biểu tại mộ của một chỉ huy Quân đội nổi dậy Ukrainadãy núi Karpat. Trong bài phát biểu, được phát sóng trên truyền hình vào mùa hè năm 2004, ông đã tuyên bố [11]:

"[Bạn là người] mà đám mafia Moskva-Do Thái đang cầm quyền ở Ukraina sợ nhất"[10]

và rằng:

"Họ đã không sợ và chúng ta không được sợ. Họ đã khoác khẩu súng tự động lên cổ và đi vào rừng, chiến đấu chống lại bọn Nga, Đức, Do Thái và đám cặn bã khác muốn lấy đi nhà nước Ukraina của chúng ta."[9]

Trong lời giải thích Tyahnybok cho biết ông không xúc phạm người Nga khi gọi họ một lực lượng chiếm đóng, mà sự thể được dựa trên sự kiện lịch sử. Ông cũng phủ nhận rằng ông bài Do Thái, mà chỉ là "pro-Ukraina" [12][13]. Văn phòng công tố ban đầu cáo buộc tội kích động hận thù dân tộc, nhưng sau đó đã rút vì thiếu chứng cứ. Tyahnybok đã thắng trong chín vụ việc liên quan đến tòa án về vấn đề đó. Các quyết định của tòa án đã được coi là bất hợp pháp, và hành động của kênh truyền hình "Inter" cho thấy các cảnh quay bài phát biểu Tyanybok, cũng như Derzhkomnatsmihratsia (công tố?) H. Moskal được coi là những người xúc phạm danh dự và nhân phẩm của Oleh Tyahnybok và gây ra thiệt hại cho đạo đức. Những hành động xung quanh vấn đề này dẫn đến việc tạo ra "Chương trình bảo vệ của Ukraina". Năm 2012 Tyahnybok tuyên bố rằng "bài phát biểu này là có liên quan đến ngày nay" và rằng "Tất cả tôi đã nói rồi, tôi cũng có thể lặp lại ngay bây giờ" [3].

Từ tháng 02/2004 Tyahnybok là lãnh đạo "Liên đoàn Tự do toàn Ukraina" tức Đảng Svoboda [8]. Tháng Tư năm 2005, Tyahnybok đã cùng ký một bức thư ngỏ đến Tổng thống Yushchenko kêu gọi một cuộc điều tra của quốc hội về "hoạt động tội phạm có tổ chức của người Do Thái ở Ukraina."[3][14]

Năm 2008 Tyahnybok ứng cử thị trưởng Kiev và được 1.37% phiếu. Năm 2010 ông ứng cử tổng thống với tư cách lãnh tụ Đảng Svoboda và được 1.43% tổng phiếu [15], phần lớn từ vùng Halychyna, Lviv, TernopilIvano-Frankivsk.

Trong cuộc bầu cử địa phương năm 2010 đảng của Tyahnybok giành được giữa 20 và 30 % phiếu ở Đông Galicia, nơi nó đã trở thành một trong những lực lượng chính trong chính quyền địa phương [4][16].

Năm 2012 Tyahnybok tái đắc cử quốc hội, đảng của ông giành được 38 ghế [17][18][19], và ông trở thành lãnh đạo nhóm của đảng tại quốc hội [20].

Tháng 6/2013, Tyahnybok và một nhà lãnh đạo Đảng Svoboda đã bị cấm vào Mỹ do thái độ chống Do Thái công khai của họ, theo tờ báo Sevodnya (Ngày nay) ở Kiev [21].

Tháng 3/2014 nước Nga đã phát lệnh truy tố hình sự chống lại Tyahnybok và một số thành viên trong nhóm Tự vệ Nhân dân Ukraina của Quốc hội Ukraina, về việc "tổ chức nhóm vũ trang" đã bị cáo buộc chiến đấu chống lại Sư đoàn Phòng vệ đường không số 76 của Nga trong cuộc Chiến tranh Chechnya thứ nhất [22].

Năm 2014 trong cuộc bầu cử tổng thống Ukraina ông thu được 1,16% số phiếu bầu [23]. Trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 10/2014 Tyahnybok một lần nữa đã đầu trong danh sách bầu cử của đảng ông. Song đảng này không vượt qua được ngưỡng 5% số phiếu bầu để có ghế trong quốc hội, tức là ông đã không được tái cử [24][25].

Vị thế chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tyahnybok coi nước Nga là mối đe dọa lớn nhất của Ukraina [11]. Ông đã cáo buộc Tổng thống Nga Medvedev "tiến hành chiến tranh ảo với Ukraina trên nhiều mặt trận - trong lĩnh vực thông tin, ngoại giao, thương mại năng lượng, và trên khắp thế giới là spin PR quốc tế" [4]. Ông ủng hộ NATO, và phê phán Liên minh châu Âu, nhưng hỗ trợ một châu Âu của các quốc gia tự do. Theo các cuộc thăm dò thì cả hai lập trường này đi ngược lại với đa số người Ukraina [11]. Tyahnybok cũng muốn tước đoạt quy chế tự trị của Crimea và quy chế đặc biệt của Sevastopol [26][27].

Tyahnybok muốn đưa mục "sắc tộc" vào hộ chiếu Ukraina, bắt đầu một chế độ thị thực với nước Nga, và yêu cầu người Ukraina phải vượt qua một cuộc kiểm tra ngôn ngữ tiếng Ukraina để được làm việc trong các dịch vụ dân sự [28].

Tyahnybok muốn tái lập Ukraina là một cường quốc hạt nhân [28]. Ông tin rằng điều này sẽ ngăn chặn "chiến tranh ảo của nước Nga đối với Ukraina" (đã nêu ở trên) [4].

Tyahnybok muốn tiếng Ukraina là ngôn ngữ chính thức của nhà nước Ukraina, nhưng cũng tin rằng không nên có sự phân biệt đối xử chống lại ngôn ngữ thiểu số [29].

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tiahnybok reelected Svoboda party head, Kyiv Post (ngày 8 tháng 12 năm 2012)
  2. ^ [1], a former candidate for President of Ukraine Kyiv Post. ngày 22 tháng 11 năm 2012. Svoboda tames radicals to get into parliament. Article written by Katya Gorchinskaya
  3. ^ a ă â Svoboda: The rise of Ukraine's ultra-nationalists, BBC News (ngày 26 tháng 12 năm 2012)
  4. ^ a ă â b c Ukrainian nationalist leader thriving in hard times, Business Ukraine (ngày 20 tháng 1 năm 2011)
  5. ^ Gorchinskaya, Katya. “Svoboda tames radicals to get into parliament”. Kyiv Post. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ “1984: радянський фільм про батька Тягнибока”. Ukrayinska Pravda (bằng tiếng Ucraina). Ngày 13 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2013. 
  7. ^ a ă â b (tiếng Ukraina) Олег Тягнибок, Ukrinform
  8. ^ a ă Political Pulse: Presidential field takes shape, Kyiv Post (ngày 11 tháng 11 năm 2009)
  9. ^ a ă Shekhovtsov, Anton (2011)."The Creeping Resurgence of the Ukrainian Radical Right? The Case of the Freedom Party". Europe-Asia Studies Volume 63, Issue 2. pp. 203-228. doi:10.1080/09668136.2011.547696 (source also available here)
  10. ^ a ă Yushchenko Finally Gets Tough On Nationalists, The Jamestown Foundation (ngày 3 tháng 8 năm 2004)
  11. ^ a ă â Tyahnybok: Nationalist, fearful of Russia, favors NATO, Kyiv Post (ngày 29 tháng 10 năm 2008)
  12. ^ Interview published in the Ukrainian newspaper Silski Visti on ngày 13 tháng 8 năm 2004, source: Ukrainian MP denies inciting racial hatred., accessmylibrary.com (ngày 17 tháng 8 năm 2004)
  13. ^ Ukrainian party picks xenophobic candidate, Jewish Telegraphic Agency (ngày 25 tháng 5 năm 2009)
  14. ^ http://www.ncsj.org/AuxPages/042005Ukr_letter.shtml Ukraine Notables Sign Anti-Semitic Letter, Anti-Semitism in Ukraine, NCSJ, 04.20.2005
  15. ^ (tiếng Ukraina) ЦВК оприлюднила офіційні результати 1-го туру виборів, Gazeta.ua (ngày 25 tháng 1 năm 2010)
  16. ^ Local government elections in Ukraine: last stage in the Party of Regions’ takeover of power, Centre for Eastern Studies (ngày 4 tháng 10 năm 2010)
  17. ^ Q&A:Ukrainian parliamentary election, BBC News (ngày 23 tháng 10 năm 2012)
  18. ^ Ukraine election:President Yanukovych party claims win, BBC News (ngày 29 tháng 10 năm 2012)
  19. ^ Parties spend over Hr 600 million on elections, according to report, Kyiv Post (ngày 16 tháng 11 năm 2012)
  20. ^ Five factions, including Communist Party, registered in parliament, Kyiv Post (ngày 12 tháng 12 năm 2012)
  21. ^ [Ukrainian Far Right Nationalists Barred From U.S. for Anti-Semitic Hatred http://forward.com/articles/179415/ukrainian-far-right-nationalists-barred-from-us-fo/#ixzz3TzHrdPDj]
  22. ^ “Russia launches criminal case against Ukraine's Tiahnybok”. Interfax-Ukraine. Truy cập 18 tháng 7 năm 2016. 
  23. ^ “Poroshenko wins presidential election with 54.7% of vote - CEC”. Radio Ukraine International. Ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
    (tiếng Nga) Results election of Ukrainian president, Телеграф (ngày 29 tháng 5 năm 2014)
  24. ^ Poroshenko Bloc to have greatest number of seats in parliament, Ukrainian Television and Radio (ngày 8 tháng 11 năm 2014)
    People's Front 0.33% ahead of Poroshenko Bloc with all ballots counted in Ukraine elections - CEC, Interfax-Ukraine (ngày 8 tháng 11 năm 2014)
    Poroshenko Bloc to get 132 seats in parliament - CEC, Interfax-Ukraine (ngày 8 tháng 11 năm 2014)
  25. ^ (tiếng Ukraina) Party list All-Ukrainian Union "Freedom", Ukrayinska Pravda (ngày 3 tháng 10 năm 2014)
  26. ^ Tyahnybok: Crimean autonomy should be cancelled, Inter~Media (ngày 12 tháng 8 năm 2008)
  27. ^ Nationalist presidential candidate in Ukraine calls for downgrading Crimea status, Kyiv Post (ngày 7 tháng 1 năm 2010)
  28. ^ a ă Tiahnybok’s virulent brand of nationalism shows no strength, Kyiv Post (ngày 14 tháng 1 năm 2010)
  29. ^ The Media War Behind the Ukraine Crisis, The Moscow Times (ngày 11 tháng 3 năm 2014)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]