Pseudojuloides polackorum

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Pseudojuloides polackorum
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Perciformes
Họ (familia)Labridae
Chi (genus)Pseudojuloides
Loài (species)P. polackorum
Danh pháp hai phần
Pseudojuloides polackorum
(Connell, Victor & Randall, 2015)

Pseudojuloides polackorum là một loài cá biển thuộc chi Pseudojuloides trong họ Cá bàng chài. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 2015, được đặt theo tên của Dennis và Sally Polack, những người đã chụp những bức ảnh dưới nước đầu tiên của P. polackorum[1].

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

P. polackorum có phạm vi phân bố nhỏ hẹp ở vùng biển Tây Nam Ấn Độ Dương. Những mẫu vật của loài này được tìm thấy ở ngoài khơi bờ biển thành phố Mombasa, Kenya trải dài đến vịnh SodwanaKwaZulu-Natal, Nam Phi; ảnh chụp ở Madagascar chỉ ra rằng phạm vi của nó kéo dài đến phía bắc của đảo. Chúng được đánh bắt nhằm mục đích thương mại cá cảnh[2]. Các tác giả không đề cập đến độ sâu tìm thấy chúng.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu vật lớn nhất dùng để mô tả P. polackorum có kích thước khoảng 7 cm. Mống mắt màu vàng. Cá đực có màu vàng lục hoặc màu xanh của ngọc lục bảo, nhạt màu hơn ở thân dưới. Nửa trên của đồng phục đầu màu vàng lục tươi, và nửa dưới màu hồng cam nhạt (hoặc gần như trắng); 2 vùng màu này cách nhau bởi một đường sọc màu xanh lam. Có một dải sọc rộng màu cam dọc theo hai bên thân, ở trên viền một dải hẹp màu lam. Vây lưng và vây hậu môn màu vàng lục, thường có thêm các dải màu xanh lam. Vây đuôi có màu xanh lục với các đốm hoặc sọc ngắn màu xanh lam; tiếp theo là một dải màu xanh lơ và dải màu đen ở sát rìa. Vây bụng và vây ngực trong suốt. Cá mái có màu đỏ cam hoặc đỏ hồng, hơi ánh màu vàng trên các vây và phần trên của đầu; nhạt màu hơn ở đầu và bụng. Mõm có đốm đen[1].

Số gai ở vây lưng: 9; Số tia vây mềm ở vây lưng: 11; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây mềm ở vây hậu môn: 12; Số tia vây mềm ở vây ngực: 13; Số gai ở vây bụng: 1; Số tia vây mềm ở vây bụng: 5; Số lược mang: 15 – 18[3].

Thức ăn của P. polackorum là các loài động vật không xương sống nhỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Connell, Victor & Randall (2015), sđd, tr.53
  2. ^ Connell, Victor & Randall (2015), sđd, tr.49, 53 - 54
  3. ^ Connell, Victor & Randall (2015), sđd, tr.52