Rắn ráo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ptyas korros
ZamenisKorrosRooij.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Tetrapoda
Lớp (class) Reptilia
Phân lớp (subclass) Diapsida
Phân thứ lớp (infraclass) Lepidosauromorpha
Liên bộ (superordo) Lepidosauria
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Serpentes
Phân thứ bộ (infraordo) Caenophidia
Liên họ (superfamilia) Colubroidea
Họ (familia) Colubridae
Phân họ (subfamilia) Colubrinae
Chi (genus) Ptyas
Loài (species) P. korros
Danh pháp hai phần
Ptyas korros
(Schlegel, 1837)
Danh pháp đồng nghĩa

Rắn ráo[3] hay còn gọi tu ngù lình (người Tày),ngù sla (người Nùng)[3] ngù xinh (người Thái),[3] rắn lải[cần dẫn nguồn] (danh pháp hai phần: Ptyas korros) là một loài rắn thuộc họ Rắn nước (Colubridae). Đây là một loài rắn không có nọc độc.[cần dẫn nguồn] Đuôi rắn có màu ôliu và các vảy có màu sẫm ở phần rìa, trên các phần dày nhất của thân có các dải màu nâu nhạt mờ, nhưng mất dần đi khi chúng lớn. Mắt tương đối lớn. Chiều dài khoảng 1,6 m-3,5 m (5,2-11,5 ft).[cần dẫn nguồn]

Sinh thái và tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn ráo sống trong rừng, trảng cỏ, bụi ven đường ven nương rẫy và cả trong nhà của con người.[3] Chúng leo treo, bơi lặn giỏi, thường chủ động bò đi tìm mồi một mình vào ban ngày.[3]

Chúng săn bắt chuột, ếch, nhái và các loài động vật có xương sống nhỏ khác nhưng không thấy ăn như rắn nước.

Rắn đực có hai dương hành, khi giao phối rắn đực chỉ sử dụng một dương hành. Con đực có thể giao phối với nhiều con cái, trái lại con cái chỉ giao phối một lần. Thời gian giao phối có thể kéo dài từ nửa giờ đến vài giờ hay hơn nữa. Sau khi giao phối, tinh trùng nằm trong ống dẫn trứng của rắn cái trong nhiều tháng đến vài năm.

Mùa sinh sản thay đổi tùy theo địa phương, nhưng nói chung trong phạm vi từ tháng 4 tới tháng 8, thường đẻ trứng trong các tổ mối nhằm đảm bảo nhiệt độđộ ẩm ổn định của một lò ấp trứng tự nhiên, và khi những con non nở ra chúng có thể tìm ngay mối và ấu trùng mối để ăn. Rắn ráo đẻ 10 - 12 trứng mỗi lứa.

Phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]

Loài rắn này phân bổ rộng khắp trong khu vực Ấn Độ, Trung QuốcĐông Nam Á, kéo dài tới một vài đảo thuộc Indonesia.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, người ta thường bắt Rắn giáo để ngâm rượu cùng một số loài rắn như hổ mang, rắn lục, cạp nong, cạp nia hay các vị thuốc khác trong các loại rượu tam xà, ngũ xà.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Boulenger, G.A. 1893. Catalogue of the Snakes in the British Museum (Natural History). Volume I., Containing the Families...Colubridæ Aglyphæ, part. Trustees of the British Museum (Natural History). (Taylor and Francis, Printers). London. xiii + 448 pp. + Plates I.- XXVIII. (Zamenis korros, pp. 384-385.)
  2. ^ The Reptile Database. www.reptile-database.org.
  3. ^ a ă â b c PGS.PTS.Phạm Nhật (Chủ Biên) - Đỗ Quang Huy; Động vật rừng; Nhà xuất bản nông nghiệp - 1998; Trang 54.
  • Ahsan, M. Farid và Shayla Parvin, 2001. The first record of Ptyas korros (Colubridae) from Bangladesh. Asiatic Herpetological Research. 9: 23-24
  • Lazell J.D., 1998, Morphology and the status of the snake genus "Ptyas". Herpetological Review 29 (3): 134
  • Schlegel, H. 1837 Essai sur la physionomie des serpens. Partie Généralxxviii +251 S. + Partie Descriptiv606 S. + xvi. La Haye (J. Kips, J. HZ. et W. P. van Stockum)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Ptyas korros tại Wikimedia Commons (tiếng Việt)

(tiếng Anh)