Radovan Karadžić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Radovan Karadžić
Радован Караџић
Evstafiev-Radovan Karadzic 3MAR94.jpg
Radovan Karadžić ở Moscow năm 1994
Chức vụ
Nhiệm kỳ 7 tháng 4 năm 1992 – 19 tháng 7 năm 1996
Tiền nhiệm Chức vụ thiết lập
Kế nhiệm Biljana Plavšić
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Dân chủ Serbia
Sinh 19 tháng 6, 1945 (71 tuổi)
Petnjica, SR Montenegro, Cộng hòa XHCN Nam Tư
Alma mater Đại học Sarajevo
Đại học Columbia
Nghề nghiệp Bác sĩ tâm thần
Tôn giáo Serbian Orthodox
Vợ Liljana Zelen Karadžić
Con cái 2
Chữ ký Radovan Karadzic Signature.svg
Chiến tranh Bosnia
Một phần của Các cuộc chiến tranh Nam Tư
Bosnian war header.no.png
Toà nhà quốc hội bốc cháy sau khi bị trúng đạn pháo tại Sarajevo tháng 5, 1992; Ratko Mladić vớc các binh lính Bosnia người Serb; một lính gìn giữ hoà bình Na Uy của Liên hiệp quốc tại Sarajevo.
.
Thời gian 1 tháng 4, 1992 - 14 tháng 12, 1995
Địa điểm Bosnia và Herzegovina
Nguyên nhân bùng nổ Bosnia và Herzegovina độc lập
Kết quả Hoà ước Dayton
  • Phân chia bên trong Bosnia và Herzegovina dựa theo Hoà ước Dayton
  • Việc triển khai lực lượng IFOR do NATO dẫn đầu để giám sát hiệp ước hoà bình.
  • Thiệt hại dân thường lớn nghiên về người Bosniak.
  • Ít nhất 100.000 người bị giết và hơn hai triệu người mất nhà cửa.
Tham chiến
1992–94:

Bosna và Hercegovina Cộng hoà Bosnia và Herzegovinaa

1992-94:

Flag of the Croatian Republic of Herzeg-Bosnia.svg CR Herzeg-Bosnia
(up to 1994)

 Croatia

1992-94:

 Republika Srpska
Cộng hòa Liên bang Nam Tư FR Yugoslavia

Flag of AP Western Bosnia (1993-1995).svg AP Western Bosnia (1993 on)

Chỉ huy
Bosna và Hercegovina Alija Izetbegović
(Tổng thống Bosnia và Herzegovin)

Bosna và Hercegovina Sefer Halilović
(ARBiH Chief of Staff 1992-1993)

Bosna và Hercegovina Rasim Delić
(ARBiH Chief of Staff 1993-1995)


NATO Leighton W. Smith
(Commander AFSOUTH)

Croatia Franjo Tuđman
(Tổng thống Croatia)

Croatia Janko Bobetko
(HV Chief of Staff 1992-1995)


Flag of the Croatian Republic of Herzeg-Bosnia.svg Mate Boban
(Tổng thống CR Herzeg-Bosnia)

Flag of the Croatian Republic of Herzeg-Bosnia.svg Milivoj Petković
(HVO Chief of Staff)

Flag of the Croatian Republic of Herzeg-Bosnia.svg Dario Kordić
(Vice president of CR Herzeg-Bosnia)

SerbiaCộng hòa Liên bang Nam Tư Slobodan Milošević
(Tổng thống Serbia)

Cộng hòa Srpska Radovan Karadžić
(Tổng thống Republika Srpska)

Cộng hòa Srpska Ratko Mladić
(VRS Chief of Staff)


Flag of AP Western Bosnia (1993-1995).svg Fikret Abdić (Acting President of AP Western Bosnia)

Lực lượng
~100 xe tăng
~200.000 bộ binh
~300 xe tăng
~70.000 bộ binh
600-700 xe tăng
120.000 bộ binh
Tổn thất
31.270 lính bị giết
33.071 dân thường bị giết
5.439 lính bị giết
2.163 dân thường bị giết
20.649 lính bị giết
4.075 dân thường bị giết
.
a Cộng hoà Bosnia và Herzegovina vào thời điểm đó không được sự ủng hộ của đa số hai nhóm sắc tộc của Bosnia là CroatsSerb (mỗi nhóm sống gần các khu kề cận thù địch). Do đó mỗi nhóm cộng đồng sắc tộc Bosniak (người Hồi giáo Bosnia) ở Bosnia và Herzegovina tự có một đại diện riêng cho mình. Đất nước Bosnia và Herzegovina sau chiến tranh bao gồm ba nhóm sắc tộc Bosnia.

b Giữa năm 1994 và 1995, Cộng hoà Bosnia và Herzegovina được sự ủng hộ của hai nhóm sắc tộc là BosniaksBosnian Croats. Điều này là do có được Hiệp định Washington.

Radovan Karadžić (* 19 tháng 6 1945 tại làng Petnjica, xã Šavnik, Nam Tư, bây giờ thuộc Montenegro), là bác sĩ tâm thần, cựu tổng thống của Cộng hòa Srpska.

Ngày 21 tháng 7 2008, Karadžić bị chính quyền Serbia bắt và cho dẫn độ sang Hà Lan. Sau hơn 7 năm giam giữ Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ kết án ông 40 năm tù vì các tội ác chiến tranh trong Chiến tranh Bosnia, tội ác chống lại loài người liên quan tới chiến dịch khủng bố khi bao vây thành phố Sarajevo khiến gần 12.000 người bị thiệt mạng và tội diệt chủng trong vụ thảm sát Srebrenica, nơi lực lượng người Serbia ở Bosnia đã thảm sát hơn 7.000 người đàn ông và thiếu niên Hồi giáo Bosnia.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Karadžić theo gia đình chuyển từ Montenegro tới thành phố Sarajevo vào năm 1960, lúc ông được 15 tuổi. Ở đây ông học lấy bằng tú tài, sau đó theo học đại học y khoa. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1971, ông làm việc tại nhà thương Sarajevo với tư cách là một bác sĩ tâm thần.
Năm 1975 ông được học bổng một năm tại trường Columbia University in New York, sau đó về mở phòng mạch riêng tại Pale. Tới năm 1983 ông được nhận làm bác sĩ cho đội bóng đá Sao Đỏ Belgrade, rồi làm việc cho cả đội FC Barcelona.[2]

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chế độ độc đảng tại Nam Tư chấm dứt vào năm 1990, đảng Dân chủ Serbia tại Bosna và Hercegovina được thành lập, Karadžić được bầu làm chủ tịch.
Vào ngày 25. Januar 1992 quốc hội Bosnia quyết định là sẽ trưng cầu dân ý về sự độc lập của nước Bosnia. Điều này được Karadžić cho là đã khiêu chiến với người Serbia. Vào ngày 29 tháng 2 và 1 tháng 3 1992 một cuộc trưng cầu dân ý về sự độc lập của Bosnia và Herzegovina tách ra khỏi Nam Tư được tổ chức. Số người đi bầu là 64% và 98% trong số đó đã bỏ phiếu thuận. Vào ngày 6 tháng 4 1992, Bosnia được Liên hiệp quốc công nhận là một nước độc lập. Karadžić sau đó tuyên bố hình thành chính phủ độc lập Cộng hòa Srpska ở Bosnia và được bầu làm tổng thống vào ngày 13 tháng năm 1992 tại Pale.

Chiến tranh Bosnia[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh cãi chính trị leo thang thành Chiến tranh Bosnia, diễn ra cho đến mùa thu năm 1995. Theo một số phán quyết của Tòa án Tội phạm Quốc tế ở Nam Tư cũ (International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia) (ICTY), các lực lượng của người gốc Serbia đã tiến hành thanh lọc sắc tộc trong các lãnh thổ mà họ họ dự định thành lập một nhà nước thuần nhất về dân tộc là Cộng hòa Srpska[3]. Cuộc chiến kết thúc với việc ký kết các Thỏa ước trong đó công nhận Cộng hòa Srpska là một trong hai bộ phận có tính chính trị-lãnh thổ và hạn chế các chức năng có tính chính quyền và quyền lực của cả hai thực thể. Đường biên giới giữa hai thực thể đã được vạch ra theo quy định của thỏa ước.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Karadzic bị án 40 năm tù tội diệt chủng, bbc, Truy cập ngày 25.03.2016
  2. ^ Radovan Karadžić - seit fünf Jahren in Haft Deutsche Welle, Truy cập ngày 23.09.2013
  3. ^ "Prosecutor v. Radoslav Brđanin - Judgement", United Nations International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]