Sương Nguyệt Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sương Nguyệt Anh (孀月英, 1 tháng 2 năm 1864 - 20 tháng 1 năm 1921)[1], tên thật là Nguyễn Thị Khuê (theo "Nguyễn chi thế phổ")[2], tuy nhiên tên ghi trên bia mộ lại là Nguyễn Ngọc Khuê, tự là Nguyệt Anh. Ngoài bút hiệu Sương Nguyệt Anh, bà còn ký nhiều bút hiệu khác như: Xuân Khuê, Nguyệt Nga, Nguyệt Anh...Bà là nhà thơ và là chủ bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo Nữ giới chung do bà phụ trách là tờ báo đầu tiên của phụ nữ được xuất bản tại Sài Gòn[3].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ nữ sĩ Sương Nguyệt Anh tại Ba Tri

Sương Nguyệt Anh sinh tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà là con gái thứ tư (cho nên trong gia tộc thường gọi bà là Năm Hạnh)[4] của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, mẹ là bà Lê Thị Điền, người làng Thanh Ba thuộc huyện Cần Giuộc.

Thuở nhỏ, bà cùng người chị tên là Nguyễn Thị Xuyến, được cha (Đồ Chiểu) truyền dạy nên giỏi cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Khi cả hai khôn lớn, nổi tiếng tài sắc, được người quanh vùng ca tụng gọi là Nhị Kiều.

Năm 1888, Sương Nguyệt Anh được 24 tuổi thì cha mất. Tri phủ Ba Tường đến hỏi bà làm vợ không được, nên mang lòng oán hận, đang tìm cách hãm hại...Để tránh tai họa, bà cùng gia đình người anh (Nguyễn Đình Chúc) chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho) rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, bà kết duyên với một phó tổng sở tại góa vợ tên Nguyễn Công Tính [5], sinh được một gái tên là Nguyễn Thị Vinh. Năm con gái được 2 tuổi, thì chồng mất. Từ đó bà thủ tiết nuôi con, thờ chồng và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Và cũng từ đó, bà thêm trước bút hiệu Nguyệt Anh một chữ "sương" (孀), thành "Sương Nguyệt Anh", có nghĩa là Nguyệt Anh goá chồng.

Những năm 1906-1908, hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu bà bán một phần điền sản và vận động quyên góp để giúp học sinh xuất dương sang Nhật du học.

Năm 1917, Sương Nguyệt Anh được một nhóm chí sĩ ái quốc mời làm chủ bút tờ Nữ giới chung nghĩa là "tiếng chuông của nữ giới". Tờ báo ra số đầu tiên ngày 1 tháng 2 năm 1918, với chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội [6]. Nhưng dù ngòi bút của Sương nguyệt Anh có khéo léo đến đâu, tầm ảnh hưởng của tờ báo này khiến mật thám Pháp e ngại, tháng 7 năm 1918, tờ Nữ Giới Chung bị đình bản [7]. Cũng ngay lúc này, người con gái độc nhất của bà tên Nguyễn Thị Vinh [8], vừa sinh nở xong, ngã bệnh qua đời.

Hết khóc mẹ, khóc cha, khóc chồng, lại phải khóc con cộng với việc viết lách rất lao tâm, khiến đôi mắt của bà thường xuyên đau nhức và sức khỏe cũng dần suy kiệt. Nghe lời thầy thuốc, Sương Nguyệt Anh dẫn cháu ngoại trở về Mỹ Chánh Hòa (Ba Tri), nương náu nơi nhà người em út tên là Nguyễn Đình Chiêm để chạy chữa, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, đôi mắt bà bị mù lòa hẳn.

Từ đấy, sớm chiều bà lại tiếp tục dò dẫm bốc thuốc, dạy học và sáng tác thơ văn. Sáng sớm ngày 12 tháng Chạp năm Tân Dậu (tức 9 tháng 1 năm 1922), Sương Nguyệt Anh trút hơi thở cuối cùng, lúc 58 tuổi [9]

Lúc đầu, mộ Sương Nguyệt Anh ở Mỹ Nhơn, về sau (năm 1959) được đồng bào cải táng dời về nằm cạnh mộ phần của song thân bà, tức nằm trong khu đền thờ và mộ Nguyễn Đình Chiểu ngày nay.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sương Nguyệt Anh sáng tác nhiều, nhưng không gom thành tập. Nay chỉ còn tản mác một số bài thơ, như: Đoan Ngọ nhật điếu Khuất Nguyên, Tức sự , Chinh Phụ thi, Thưởng bạch Mai, Vịnh ni cô, vua Thành Thái vào Nam, cảm tác khi lính Việt đi Âu chiến...Và vài bài vè, như: Vè tiểu yêu, Vè Thầy Hỷ, Vè đánh đề...

Một tấm lòng thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài bản dịch bộ Yên Sơn ngoại sử của Trung Quốc ra thơ lục bát, một số ít bài thơ chữ Hán, thể lục bát; thơ của Sương Nguyệt Anh phần lớn là thơ Nôm, theo thể Đường luật...

Để bộc lộ cuộc nợ duyên dang dở của mình, bà viết:

Năm canh thức nhấp...năm canh những
Nửa gối so le, nửa gối chờ
Vườn én rủ ren trên lối cũ,
Canh gà xao xác giục tình xưa...

Nhưng phần nhiều, thơ của bà là để đối đáp lại những người đã trêu ghẹo, đã tỏ tình với mình, nhằm nêu lên đức kiên trinh của người phụ nữ Nam Bộ, như: "Tiễn ông Kinh Hối nhậm chức kinh lịch ở Sa Đéc", "Họa thơ Bảy Nguyện", "Họa thơ Phủ Ngọc", "Họa thơ Bái Liêu", "Thưởng Bạch Mai", "Vịnh ni cô"...

Trong số bài thơ khác, Sương Nguyệt Anh đã kín đáo gửi gắm tấm lòng yêu nước, thương dân, quan tâm đến thời cuộc, trích:

Vui lòng thánh đế nơi xe ngựa,
Xót dạ thần dân chốn lửa than
Nước mắt có cùng trời đất biết,
Biển dâu một cuộc thấy mà thương.
(Vua Thành Thái vào Nam)

Nhìn chung Thơ Sương Nguyệt Anh không có gì thật đặc sắc, nhưng lời lẽ thanh thoát, có ý vị. Thể vè do bà sáng tác có cái chất mộc mạc của thể vè truyền thống miền Nam, vừa giữ được ngòi bút cứng cáp, có truyền thống trong gia đình...[10]

Năm 1915, ông Việt sĩ sau khi đã khen ngợi Sương Nguyệt Anh rằng: Cuộc đời bà đã trải qua biết bao đau khổ, nhưng biết bao nỗi khổ đó hình như để thử thách người thiếu phụ kiên trinh, ông còn nhận định như sau:

Nhắc đến Sương nguyệt Anh, người ta còn thấy lại nơi bà một tấm gương hoạt động cho phái nữ lưu; người ta không quên một cây bút rắn rỏi đã từng nêu trên tờ Nữ giới chung nhiều vấn đề lý thú về phận sự đàn bà đối với gia đình và xã hội. Trong buổi giao thời, phụ nữ nước nhà vừa ra khỏi khuê môn để tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, bà Sương Nguyệt Anh rất xứng đáng là nữ sĩ tiền phong trên đất Việt[11].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 2, Nhà xuất bản. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1980, tr. 28) và Mai Huỳnh Hoa (Từ điển văn học, bộ mới, tr. 1576). Bia mộ ghi bà "mất ngày 12 tháng 2 năm Tân Dậu (1922), hưởng thọ 58 tuổi". Chưa rõ vì sao có sự khác biệt này.
  2. ^ "Nguyễn chi thế phổ" do Nguyễn Đình Chiểu biên soạn, Nguyễn Đình Huy (cha ông Chiểu) hiệu chính.
  3. ^ Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 1, tr. 28.
  4. ^ Theo tục lệ ở Nam Bộ, con đầu lòng kể thứ hai, nên mặc dù Sương Nguyệt Anh là con gái thứ tư trong gia đình, nhưng được gọi là thứ năm.
  5. ^ Có sách ghi tên Trình. Ở đây ghi theo Nguyễn Liên Phong vì ông là người sống cùng thời với Sương Nguyệt Anh. Ngoài ra, ông còn cho biết thêm chi tiết: "Con gái ông Đồ Chiểu hình trạng nho nhã ốm yếu, tính nết điềm tịnh hiền lành. Thuở nhỏ cô lấy chồng, tên là thầy phó Tính, về ở theo quê chồng tại chợ Rạch Miễu" (Điếu cổ hạ kim thi tập xuất bản 1915).
  6. ^ Toà soạn đặt tại số nhà 15 đường Taberd (nay là đường Nguyễn Du, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Chủ nhiệm là ông Henri Blanquière. Tờ báo phát hành định kỳ hàng tuần với các chuyên mục: xã thuyết, văn nghệ, gia chánh, học nghề, cùng các trang lời hay ý đẹp và mẹ con nói chuyện. Có thể nói, "Nữ giới chung" là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam thời đó chú trọng đến việc dạy nữ công, đức hạnh phụ nữ và phê phán những luật lệ khắt khe đối với nữ giới.[1],
  7. ^ Theo Nguyễn Ngọc Hiền, Nữ sĩ Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2005, tr.478.
  8. ^ Cô Vinh lấy chồng là ông Mai Bạch Ngọc (hay Mai Văn Ngọc), sinh một cô con gái đặt tên Mai Huỳnh Hoa nhũ danh Kim Ba, sau này kết duyên với nhà hoạt động chính trị Phan Văn Hùm (1902-1946), tác giả Ngồi tù khám lớn (1929)
  9. ^ Ngày mất ghi theo bia mộ. Nhưng theo Mai Huỳnh Hoa thì bà mất tại Ba Tri ngày 2 tháng Chạp năm Canh Thân tức 20 tháng 1 năm 1921 (Từ điển Văn học, tập 2. Nhà xuất bản KHXH, tr. 320).
  10. ^ Mai Huỳnh Hoa, Tự điển Văn học Việt Nam (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr.1576
  11. ^ Dẫn theo GS. Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ danh nhân tự điển, Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1966, tr. 1161

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]