Snow Patrol

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Snow Patrol
Snow Patrol Band.jpg
Snow Patrol, từ trái sang: Paul Wilson, Gary Lightbody, Jonny Quinn, Nathan Connolly, Tom Simpson
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh Polarbear
Nguyên quán Dundee, Scotland
Thể loại
Năm hoạt động 1994–nay
Hãng đĩa Fiction/Interscope, Jeepster, Electric Honey
Hợp tác với Shrug, Iain Archer, Belle & Sebastian, The Reindeer Section, Terra Diablo, The Cake Sale, Little Doses, Listen... Tanks!, Tired Pony
Website snowpatrol.com
Thành viên hiện tại
Gary Lightbody
Jonny Quinn
Nathan Connolly
Paul Wilson
Johnny McDaid
Cựu thành viên
Tom Simpson
Mark McClelland
Michael Morrison

Snow Patrol nhóm nhạc rock Bắc Ireland được thành lập năm 1993,[1] gồm các thành viên Gary Lightbody (hát, guitar), Nathan Connolly (guitar, giọng bè), Paul Wilson (guitar bass, giọng bè), Jonny Quinn (trống), và Johnny McDaid (piano, guitar, giọng bè).[2] Với khởi đầu là một nhóm indie rock, Snow Patrol trở nên nổi tiếng vào thập niên 2000 cùng phong trào post-Britpop.

Nhóm được thành lập tại Đại học Dundee vào năm 1993 bởi Lightbody, Michael Morrison, và Mark McClelland với tên Shrug. Sau một thời gian ngắn sử dụng tên gọi Polar Bear và thành viên Morrison rời nhóm, nhóm lấy tên Snow Patrol vào năm 1997 và Quinn gia nhập đội ngũ thành viên. Ba sản phẩm đầu tiên gồm EP Starfighter Pilot (1997), và hai album phòng thu Songs for Polarbears (1998) và When It's All Over We Still Have to Clear Up (2001) thất bại về mặt doanh thu và được phát bởi các hãng đĩa độc lập như Electric HoneyJeepster. Nhóm ký hợp đồng với hãng thu âm lớn Polydor Records vào năm 2002.

Connolly gia nhập Snow Patrol vào năm 2002, và sau album đầu tay cùng hãng đĩa mới mang tên Final Straw, nhóm trở nên nổi tiếng toàn Vương quốc Anh. Tại đây album được chứng nhận bạch kim 5 lần[3] cũng như bán được 3 triệu bản toàn cầu. Album tiếp theo Eyes Open (2006) cùng đĩa đơn hit "Chasing Cars", đưa nhóm tới với công chúng toàn thế giới. Album đứng đầu UK Albums Chart và là album Anh bán chạy nhất năm với trên 6 triệu bản. Từ năm 2008 tới 2011 nhóm lần lượt ra ba album, A Hundred Million Suns (2008), album tổng hợp Up to Now (2009) và Fallen Empires (2011).

Snow Patrol từng giành được 7 giải Meteor Music Awards và được đề cử Giải Brit 6 lần. Kể từ khi ra album Final Straw, ban nhạc đã bán ra 13 triệu album trên toàn cầu.[4]

Các thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Niên biểu thành viên

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Album Ngày bắt đầu Ngày kết thúc
Final Straw Tour Final Straw 10 tháng 8 năm 2003 23 tháng 7 năm 2005
Eyes Open Tour Eyes Open 14 tháng 2 năm 2006 22 tháng 9 năm 2007
Take Back the Cities Tour A Hundred Million Suns 26 tháng 10 năm 2008 20 tháng 10 năm 2009
Reworked Tour Up to Now 18 tháng 11 năm 2009 12 tháng 12 năm 2009
Fallen Empires Tour Fallen Empires 20 tháng 1 năm 2012 31 tháng 12 năm 2012

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Borges, Mario Mesquita. “Snow Patrol – Biography”. Allmusic. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008. 
  2. ^ Binkert, Lisa (ngày 10 tháng 1 năm 2012). “Patrol Track-By-Track Video: 'Fallen Empires'. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ “Home”. Bpi.co.uk. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2014. 
  4. ^ Balls, David (ngày 11 tháng 9 năm 2009). “Snow Patrol to release greatest hits”. Digital Spy. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]