Soyuz TMA-02M
Soyuz TMA-02M trên trạm vũ trụ ISS, phía sau là tàu Progress M-10M | |
| Nhà đầu tư | Roscosmos |
|---|---|
| COSPAR ID | 2011-023A |
| Số SATCAT | 37633 |
| Thời gian nhiệm vụ | 167 ngày, 6 giờ và 14 phút |
| Các thuộc tính thiết bị vũ trụ | |
| Dạng thiết bị vũ trụ | Soyuz-TMA 11F747 |
| Nhà sản xuất | Energia |
| Phi hành đoàn | |
| Quy mô phi hành đoàn | 3 |
| Thành viên | Sergey Volkov Satoshi Furukawa Michael E. Fossum |
| Bắt đầu nhiệm vụ | |
| Ngày phóng | 7 tháng 6, 2011, 20:12 UTC[1][2] |
| Tên lửa | Soyuz-FG |
| Địa điểm phóng | Baikonur 1/5 |
| Kết thúc nhiệm vụ | |
| Ngày hạ cánh | 22 tháng 11, 2011, 02:26 UTC[3] |
| Các tham số quỹ đạo | |
| Hệ quy chiếu | Quỹ đạo Trái Đất |
| Chế độ | Quỹ đạo Trái Đất tầm thấp |
| Ghép nối với ISS | |
| Cổng ghép nối | Cổng nadir Rassvet |
| Ngày ghép nối | 9 tháng 6, 2011 21:18 UTC |
| Ngày ngắt ghép nối | 21 tháng 11, 2011 23:00 UTC |
| Thời gian ghép nối | 165d 1h 42m |
Từ trái sang phải: Furukawa, Fossum và Volkov Chương trình Soyuz (Nhiệm vụ có người lái) | |
Soyuz TMA-02M là một chuyến bay tàu vũ trụ Soyuz đến Trạm Vũ trụ Quốc tế, vận chuyển ba thành viên của phi hành đoàn Expedition 28 lên trạm.[2] Soyuz TMA-02M là chuyến bay thứ 110 của tàu vũ trụ Soyuz, chuyến bay đầu tiên phóng vào năm 1967. Đây là chuyến bay thứ hai của tàu vũ trụ Soyuz-TMA-M cải tiến, chuyến đầu tiên là Soyuz TMA-01M vào ngày 7 tháng 10 năm 2010. Tàu Soyuz vẫn ở trên trạm không gian trong suốt khoảng thời gian của Expedition 28-29 để phục vụ như là một phương tiện thoát hiểm khẩn cấp.
Tàu vũ trụ Soyuz đã phóng từ sân bay vũ trụ Baikonur vào thứ ba, ngày 7 tháng 6 năm 2011 lúc 20:12 UTC (08 tháng sáu 2011, 02:12 giờ địa phương).[4] Hai ngày sau khi phóng, tàu Soyuz đã cập vào Trạm Vũ trụ Quốc tế lúc khoảng 5:22 EDT (21:17:49 UTC), thứ Năm ngày 9 tháng 6.[5][6] Tàu vũ trụ mang theo một phi hành đoàn ba người (Sergey Volkov người Nga; Michael E. Fossum người Mỹ; Satoshi Furukawa người Nhật Bản).[7] Tàu đã hạ cánh tại Kazakhstan lúc 02:26 UTC ngày 22 tháng 11 năm 2011.[3]
Phi hành đoàn
[sửa | sửa mã nguồn]| Vị trí[8][9] | Phi hành gia |
|---|---|
| Chỉ huy |
|
| Kỹ sư chuyến bay 1 |
|
| Kỹ sư chuyến bay 2 |
|
Phi hành đoàn dự phòng
[sửa | sửa mã nguồn]| Vị trí | Phi hành gia |
|---|---|
| Chỉ huy | |
| Kỹ sư chuyến bay 1 | |
| Kỹ sư chuyến bay 2 |
Phù hiệu nhiệm vụ
[sửa | sửa mã nguồn]Cựu lãnh đạo Roscosmos, Anatoly Perminov, đã phê chuẩn phù hiệu nhiệm vụ Soyuz TMA-02M vào ngày 11 tháng 3 năm 2011. Bức vẽ một con tàu vũ trụ của họa sĩ nhí 8 tuổi Katya Ikramova đến từ Krasnoyarsk (Nga) là nguồn cảm hứng cho thiết kế phù hiệu của nhiệm vụ Soyuz TMA-02M.[10]
Chuẩn bị trước khi phóng
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 21 tháng 4 năm 2011, một đoàn tàu từ RSC Energia đến ga Tyuratam, mang theo tàu Soyuz TMA-02M.[11] Sau khi làm thủ tục hải quan, tàu vũ trụ được đưa về tòa nhà tích hợp và thử nghiệm tại Baikonur để tiếp tục quy trình chuẩn bị trước phóng. Quá trình xử lý trước phóng tiếp diễn tại Baikonur sau khi tàu được bàn giao. Đầu tháng 5, tàu Soyuz được thử nghiệm trong buồng âm học, nhằm kiểm tra hệ thống Kurs, hệ thống đảm nhiệm việc tiếp cận và ghép nối.[12] Sau phép thử này, Soyuz được chuẩn bị cho kiểm tra độ kín trong buồng chân không. Các thử nghiệm cuối cùng, bao gồm cả thử nghiệm khí nén đối với tên lửa đẩy Soyuz-FG, diễn ra từ ngày 16 đến 27 tháng 5.[13]
Trong cuộc họp ngày 23 tháng 5 về tình trạng sẵn sàng bay, Hội đồng Roscosmos đã phê duyệt việc phóng Soyuz TMA-02M vào ngày 8 tháng 6 năm 2011.
Ngày 27 tháng 5, tàu vũ trụ được chuyển đến trạm nạp nhiên liệu tại Khu 31 để nạp nhiên liệu và khí nén cho hệ thống đẩy của Soyuz. Công việc nạp nhiên liệu kéo dài sang ngày hôm sau. Các hoạt động sau nạp diễn ra từ 29 tháng 5 đến 3 tháng 6. Khâu tích hợp với tên lửa phóng Soyuz-FG được lên kế hoạch cho ngày 4 tháng 6. Chiến dịch phóng tại bệ 1 (Gagarin's Start) bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 và kéo dài cho đến ngày phóng 8 tháng 6.
Huấn luyện phi hành đoàn
[sửa | sửa mã nguồn]Trung tâm Huấn luyện Phi công Vũ trụ Gagarin đã tổ chức hai ngày thi kiểm tra cho phi hành đoàn chính và dự bị của Soyuz TMA-02M vào 12–13 tháng 5 năm 2011.[14] gày 12 tháng 5, phi hành đoàn chính làm bài kiểm tra tích hợp trong mô phỏng ISS, trong khi phi hành đoàn dự bị thi trong mô hình Soyuz. Bài kiểm tra tích hợp ISS mô phỏng một ngày làm việc trên trạm vũ trụ, với việc các huấn luyện viên đưa vào một số tình huống bất thường. Ngày hôm sau, hai nhóm đổi vai trò và làm bài thi còn lại.[15]
Phi hành đoàn của chúng tôi rất ăn ý, tôi hoàn toàn tin tưởng các đồng nghiệp. Tàu ở trong tình trạng tốt, chúng tôi rất háo hức được bay vào vũ trụ. Chúng tôi muốn có thể bay lượn quanh trạm, nhưng nhiệm vụ này không có hạng mục đó, vì chuyến bay của chúng tôi tập trung vào việc thử nghiệm chiếc Soyuz thứ hai thuộc loạt ‘kỹ thuật số’ TMA-M, nên chúng tôi sẽ kiểm tra các hệ thống của nó trong suốt nhiệm vụ. Tôi hy vọng chuyến bay sẽ thành công.[16] – Sergey Volkov
Các phi hành đoàn Soyuz TMA-02M đến Baikonur vào 25 tháng 5 năm 2011. Sau khi rời sân bay Chkalovsky ở Moskva, máy bay chở phi hành đoàn chính hạ cánh xuống sân bay Krainy lúc 13:00 giờ địa phương; máy bay chở phi hành đoàn dự bị hạ cánh 20 phút sau đó.[17] Ngày 26 tháng 5 năm 2011, các phi hành đoàn chính và dự bị bắt đầu buổi huấn luyện đầu tiên tại Khu 254 của Baikonur.[18] Phi hành đoàn chính kiểm tra việc bố trí hàng hóa trong khoang đổ bộ, mặc và thử bộ đồ không gian Sokol, thực hiện kiểm tra độ kín, và thử hệ thống liên lạc trong mũ bảo hiểm. Họ cũng tập luyện với máy đo xa laser, thiết bị dẫn đường và các hệ thống khác. Phi hành đoàn dự bị gồm Kononenko, Pettit và Kuipers (trừ phần mặc đồ Sokol) cũng huấn luyện với các hệ thống của Soyuz.

Tàu vũ trụ
[sửa | sửa mã nguồn]Soyuz TMA-02M là nhiệm vụ thứ hai sử dụng tàu Soyuz TMA-M nâng cấp, với hệ thống điều khiển bay hiện đại hóa và khối lượng giảm nhẹ. TMA-02M là chuyến bay thử nghiệm phát triển thứ hai; chuyến bay thứ ba (Soyuz TMA-03M) sẽ là chuyến bay thử nghiệm đủ điều kiện và sẽ kết thúc chương trình bay thử. Tàu được thiết kế và chế tạo bởi Energia, công ty lớn nhất trong ngành công nghiệp vũ trụ Nga.[19]
Mission highlights
[sửa | sửa mã nguồn]Tàu Soyuz TMA-02M được phóng thành công từ Sân bay vũ trụ Baikonur vào thứ Ba, ngày 7 tháng 6 năm 2011 lúc 21:12 UTC (tức 02:12 sáng ngày 8 tháng 6 theo giờ Baikonur địa phương)[4] Tàu vũ trụ cập Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) lúc 17:18 chiều thứ Năm, ngày 9 tháng 6 năm 2011, ghép nối với mô-đun Rassvet của ISS.[2] Soyuz đã chở theo một phi hành đoàn quốc tế ba người lên trạm: Sergey Volkov (Nga) – chỉ huy nhiệm vụ; Michael E. Fossum (Hoa Kỳ) và Satoshi Furukawa (Nhật Bản). Ba phi hành gia này lưu trú trên trạm cho đến giữa tháng 11 năm 2011.[7]
Trên ISS, phi hành đoàn Soyuz TMA-02M đã gia nhập cùng các thành viên Expedition 28 khác là hai phi công vũ trụ Nga Andrei Borisenko, Aleksandr Samokutyayev và phi hành gia NASA Ron Garan.[2][20]
Trở về Trái Đất
[sửa | sửa mã nguồn]-
Vệt plasma bên dưới tàu chở hàng Progress
-
Khu vực hạ cánh của Soyuz TMA-02M nhìn từ trên cao
-
Khoang tàu Soyuz ngay sau khi hạ cánh
-
Phi hành đoàn Soyuz sau khi được đưa ra khỏi khoang
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ NASA. "Consolidated Launch Manifest". NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2011.
- ^ a b c d "Expedition 28". NASA. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2011.
- ^ a b "3 Space Station Astronauts Land Safely in Kazakhstan". Space.com. ngày 22 tháng 11 năm 2011.
- ^ a b "Soyuz Blasts Off To International Space Station". Irish Weather Online (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2011.
- ^ "Station-bound Soyuz space capsule climbs into orbit". Spaceflight Now (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2011.
- ^ "3 traveling to space station safely in orbit". USA Today (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2011.
- ^ a b "Russian spacecraft blasts off for space station". Yahoo! News (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2011.
- ^ "国際宇宙ステーション(ISS)長期滞在クルーへの古川宇宙飛行士の任命について" [JAXA announcement of Furukawa’s assignment to the ISS long-duration crew]. JAXA (bằng tiếng Nhật). Japan Aerospace Exploration Agency. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ^ NASA HQ (2009). "NASA and its International Partners Assign Space Station Crews". NASA. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2009.
- ^ "Roscosmos Head Anatoly Perminov Approves the Patch of the Soyuz TMA-02M Crew". Russian Federal Space Agency. ngày 12 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 21 tháng 4 năm 2011). "Soyuz TMA-02M Arrives at the Space Port". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 10 tháng 5 năm 2011). "Soyuz TMA-02M Prelaunch Processing is in Progress at Baikonur". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 24 tháng 5 năm 2011). "Roscosmos Board Meeting Reviews Soyuz TMA-02M Flight Readiness". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 13 tháng 5 năm 2011). "Soyuz TMA-02М Crew Got Excellent Mark on the First Day of the Examination Training". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 12 tháng 5 năm 2011). "Soyuz TMA-02М Crew Exams to Begin Today". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 27 tháng 5 năm 2011). "Soyuz TMA-02M Crew Interviewed by News Media". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 25 tháng 5 năm 2011). "Soyuz TMA-02M Crews Arrive at Baikonur". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ Russian Federal Space Agency (ngày 26 tháng 5 năm 2011). "Soyuz TMA-02M Crews: First Training at Baikonur". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
- ^ "Soyuz TMA-M crewed transport vehicle of a new series". RSC Energia (bằng tiếng Anh). S.P. Korolev Rocket and Space Corporation Energia. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ^ >"Soyuz ship blasts off into space". Voice of Russia (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011.