Sylvia Plath

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sylvia Plath
Sinh 27 tháng 10, 1932
Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ
Mất 11 tháng 2, 1963 (30 tuổi)
London, Anh
Bút danh Victoria Lucas
Công việc Nhà thơ, Nhà văn
Quốc gia Người Mỹ
Bằng cấp
Tác phẩm nổi bật The Bell JarAriel

Chữ ký Sylvia Plath

Sylvia Plath ( 27 tháng 10, 1932 - 11 tháng 2, 1963) là một nhà thơ, nhà văn Mỹ. Người đời thường so sánh thơ của Plath với loại "thơ xưng tội" (confessional poetry).

Sylvia Plath được coi là một nhà thơ nữ đặc sắc của Mỹ trong thế kỷ 20, được trao giải Pulitzer – một điều hiếm thấy trong lịch sử của giải thưởng vốn chỉ trao cho những người còn sống.

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Sylvia Plath sinh ở Boston, Massachusetts. Cha của cô, Otto Plath (1885-1940) đến từ Grabow, nước Đức, là một nhà côn trùng học và một giáo sư sinh học tại Đại học Boston là tác giả một cuốn sách về ong vò vẽ. Aurelia Plath (1906-1994), mẹ của plath là một người Mỹ gốc Áo. Plath có một người em trai, Warren sinh năm 1935.

Năm 1936, gia đình họ dọn tới 92 Johnson Avenue, Winthrop phía đông của Massachusetts.[1] Đây là nơi Plath trở nên quen thuộc và rất gần gũi với biển. Từ khi còn nhỏ Plath rất thích biển, cô đã nhận ra vẻ đẹp và sức mạnh của nó.

Năm 1940, một tuần sau ngày sinh nhật 8 tuổi, Plath mồ côi cha do căn bệnh ung thư. Plath sáng tác bài thơ đầu tiên của mình bài thơ Daddy về mối quan hệ cha con và cảm xúc của cô, sự phản bội khi ông qua đời.

Những năm học tập[sửa | sửa mã nguồn]

Sylvia Plath là một sinh viên tài năng, khi còn học tại Smith College cô đã viết trên 50 truyện ngắn và đã giành được nhiều giải thưởng, và đã xuất bản những câu chuyện và bài thơ trên các tạp chí quốc gia khi còn ở tuổi thanh thiếu niên.

Mùa hè năm 1953, Plath dành trọn thời gian ở thành phố New York, chiến thắng với đối thủ cạnh tranh giải biên tập viên khách mời làm việc cho tạp chí Mademoiselle - mà sau này được thúc đẩy cuốn tiểu thuyết bán tự truyện The Bell Jar. Đó là trong suốt những năm đại học của mình rằng Plath bắt đầu gặp các triệu chứng của bệnh trầm cảm nghiêm trọng mà có thể cuối cùng dẫn đến cái chết.

Một trong những mục nhật ký của ngày 20 tháng sáu năm 1958, cô viết: "Đó là, nếu như cuộc sống của tôi đã kỳ diệu chạy bởi hai dòng điện: vui vẻ tích cực và tuyệt vọng tiêu cực nào đang chạy ở thời điểm này chi phối cuộc sống của tôi, lũ lụt nó."

Vào tháng 8 năm 1953 ở tuổi 20, Plath đã cố gắng tự tử bằng cách uống thuốc ngủ. Cô sống sót sau nỗ lực và phải nhập viện, điều trị bằng liệu pháp sốc điện giật.

Sau khi đã hồi phục bệnh, Plath quay về trường Smith College và tốt nghiệp năm 1955. Cô giành được một học bổng Fulbright để nghiên cứu tại Đại học Cambridge ở Anh, và đó cũng là nơi cô gặp tình yêu của đời mình.

Hôn nhân và cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 2 năm 1956 tại một bữa tiệc của tạp chí St. Botolph's Review ở Cambridge, Sylvia Plath lần đầu tiên gặp nhà thơ Ted Hughes. Vốn ngưỡng mộ tài năng và tò mò về con người Hughes, Plath làm mọi cách để thu hút sự chú ý. Bốn tháng sau đó họ kết hôn tại St George the Martyr, Holborn của Anh.

Vào đầu năm 1957, cặp vợ chồng chuyển đến Hoa Kỳ và từ tháng 9 năm 1957 Plath giảng dạy ở Smith College, trường cũ của cô. Trong thời gian này cô tìm thấy khó khăn cho cả giảng dạy, và không có đủ thời gian và sức lực để viết.

Sau một thời gian ngắn giảng dạy ở Mỹ, họ đã quyết định cam kết dành toàn thời gian để viết văn.

Tháng 4 năm 1960, Frieda - con gái của họ ra đời hai năm sau kể từ khi cô chuyển về nước Anh và vào tháng 10, Plath xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình về thơ, The Colossus.[2] Vào tháng 2 năm 1961, lần mang thai thứ hai của mình, Plath của bị sẩy thai- bài thơ Parliament Hill Fields cũng có đề cập sự kiện này.[3]

Cùng năm đó, vào tháng 8, cuốn tiểu thuyết bán tự truyện The Bell Jar (tạm dịch: Chiếc chuông ác mộng) hoàn thành và ngay lập tức sau đó, họ dọn đến ở thị trấn nhỏ của Bắc Tawton ở Devon.

Năm 1961, hai vợ chồng thuê căn hộ ở Chalcot Square, Assia cùng chồng là David Wevill được Plath mời đến nhà chơi. Lần đầu tiên gặp nhau, Hughes ngay lập tức bị xiêu lòng bởi vẻ đẹp của Assia.

Sau sự ra đời đứa con trai của họ Nicholas vào năm 1962, cuộc hôn nhân ngày càng trở nên đầy bất ổn về tinh thần của Plath và sự nghi ngờ không chung thủy về chồng - người đã có quan hệ với Assia Wevill.

Cặp vợ chồng sau đó ly thân và Plath đã dẫn theo các con đến sống ở London.[4] Trong một sự bức phá bất thường của sáng tạo vào mùa thu năm 1962, Plath viết hầu hết các bài thơ mà sau này vẫn còn được biết đến.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi nhà nơi Plath tự tử ở gần Primrose Hill, London

Trước khi qua đời, Plath đã cố gắng nhiều lần để lấy đi mạng sống của chính mình.[5] Ngày 24 tháng 8 năm 1953, Plath quá liều thuốc trong hầm rượu của nhà của mẹ. Trong tháng 6 năm 1962, Plath đã lái chiếc xe của mình ra khỏi lề đường, xuống sông. Khi được hỏi về vụ việc, cô thừa nhận để cố gắng để có cuộc sống của riêng mình.

Tuy nhiên, mùa đông năm đó cũng là lúc Plath ngày càng bị cô lập, tuyệt vọng. Trong buổi sáng sớm ngày 11 tháng hai năm 1963, Plath quyết định tự tử. Cô nhốt mình trong một căn phòng ngay cạnh lò bếp, bịt kín cửa ra vào bằng khăn ướt để không ảnh hưởng tới các con của mình.[6] Plath bị chết ngạt do khí gas trong phòng.

Cuốn tiểu thuyết duy nhất của cô là The Bell Jar được phát hành vào tháng Giêng năm 1963, xuất bản dưới bút danh Victoria Lucas,[7] và đã được đáp ứng với sự quan trọng.

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tranh luận đã diễn ra có nhiều người đổ lỗi do Hughes cho cái chết sớm của Plath. Phong trào nữ quyền áp dụng với cô như một biểu tượng và giải thích vai trò của Hughes là người có trách nhiệm với văn chương của Plath.

Tập thơ Birthday Letters của Ted Hughes vào thời điểm gần đó giải thích quan điểm của ông về cuộc hôn nhân của họ trong một loạt các đấu giá và lời thơ héo úa.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Khi còn sống, Sylvia Plath mới in một tập thơ The Colossus (1960) và tiểu thuyết The Bell Jar (Chiếc chuông ác mộng, 1963) với bút danh Victoria Lucas. Sau khi mất, các tập thơ: Ariel (1965), Crosing the Water (Băng qua nước, 1971), Winter Trees (Cây mùa đông, 1972) được xuất bản. Ted Hughes tập hợp và in Collected Poems (Tuyển tập thơ) năm 1981.

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Mad Girl's Love Song
 
"I shut my eyes and all the world drops dead;
I lift my lids and all is born again.
(I think I made you up inside my head.)
 
The stars go waltzing out in blue and red,
And arbitrary blackness gallops in:
I shut my eyes and all the world drops dead.
 
I dreamed that you bewitched me into bed
And sung me moon-struck, kissed me quite insane.
(I think I made you up inside my head.)
 
God topples from the sky, hell's fires fade:
Exit seraphim and Satan's men:
I shut my eyes and all the world drops dead.
 
I fancied you'd return the way you said,
But I grow old and I forget your name.
(I think I made you up inside my head.)
 
I should have loved a thunderbird instead;
At least when spring comes they roar back again.
I shut my eyes and all the world drops dead.
(I think I made you up inside my head.)"
 
Mirror
 
I am silver and exact. I have no preconceptions.
What ever you see I swallow immediately
Just as it is, unmisted by love or dislike.
I am not cruel, only truthful---
The eye of a little god, four-cornered.
Most of the time I meditate on the opposite wall.
It is pink, with speckles. I have looked at it so long
I think it is a part of my heart. But it flickers.
Faces and darkness separate us over and over.
 
Now I am a lake. A woman bends over me,
Searching my reaches for what she really is.
Then she turns to those liars, the candles or the moon.
I see her back, and reflect it faithfully.
She rewards me with tears and an agitation of hands.
I am important to her. She comes and goes.
Each morning it is her face that replaces the darkness.
In me she has drowned a young girl, and in me an old woman
Rises toward her day after day, like a terrible fish.
 
The Rival
 
If the moon smiled, she would resemble you.
You leave the same impression
Of something beautiful, but annihilating.
Both of you are great light borrowers.
Her O-mouth grieves at the world; yours is unaffected,
 
And your first gift is making stone out of everything.
I wake to a mausoleum; you are here,
Ticking your fingers on the marble table, looking for cigarettes,
Spiteful as a woman, but not so nervous,
And dying to say something unanswerable.
 
The moon, too, abuses her subjects,
But in the daytime she is ridiculous.
Your dissatisfactions, on the other hand,
Arrive through the mailslot with loving regularity,
White and blank, expansive as carbon monoxide.
 
No day is safe from news of you,
Walking about in Africa maybe, but thinking of me.
Bản tình ca của cô gái điên
 
Nhắm mắt lại, cả thế giới lụi tàn
Mở mắt ra, tất cả hồi sinh lại
(Em cứ ngỡ rằng em đã nghĩ ra anh).
 
Những ngôi sao với màu đỏ và xanh
Dưới trời hoàng hôn tối đen như mực
Nhắm mắt vào, cả thế giới lụi tàn.
 
Mơ thấy anh làm bùa phép trên giường
Hát và hôn như cuồng điên mất trí
(Em cứ ngỡ rằng em đã nghĩ ra anh)
 
Cả cơn nóng địa ngục và Thượng đế không còn
Biến mất hết cả thần tiên, quỷ sứ
Nhắm mắt vào, cả thế giới lụi tàn.
 
Tưởng anh quay về như đã hứa với em
Thời gian trôi, và rồi em quên lãng
(Em cứ ngỡ rằng, em đã nghĩ ra anh).
 
Giá mà yêu chim sấm thay vì anh
Mỗi xuân về chim còn quay trở lại
Nhắm mắt vào cả thế gian tàn lụi
(Em cứ ngỡ rằng em đã nghĩ ra anh).
 
Gương
 
Tôi bằng bạc. Tôi không thành kiến, mà chính xác
Nhìn thấy thứ gì, hấp thụ hết vào gương
Như vốn có – không bị phủ mờ bởi ghét và thương
Tôi không dữ dằn, tôi chỉ yêu sự thật.
Con mắt của Chúa, con mắt trong bốn góc
Thường suy tư, nhìn đối diện bức tường
Bức tường hồng vấy bẩn. Tôi nhìn, tôi suy ngẫm
Tường là một phần của trái tim. Nhưng tường run bắn
Bóng tối và mặt người làm cho cách biệt thường xuyên.
 
Tôi là mặt nước hồ. Phụ nữ cúi trên gương
Họ nhìn vào tôi để tìm ra con người thật
Rồi hướng về nến và trăng – những kẻ chuyên lừa lọc
Tôi nhìn thấy lưng nàng và phản chiếu trong gương
Phụ nữ khóc lên, hai bàn tay phụ nữ run run
Phụ nữ cần gương. Phụ nữ đi rồi trở lại
Mỗi buổi sáng khuôn mặt hiện trước gương từ bóng tối
Phụ nữ chìm trong gương cả thiếu nữ, cả khi đà luống tuổi
Ngày lại ngày đứng trước gương như con cá khủng khiếp vô cùng.
 
Tình địch
 
Nếu trăng mỉm cười, trăng cũng giống như cô
Cô cũng gây ấn tượng như trăng, y hệt
Ấn tượng của một cái gì đó đẹp, nhưng hủy diệt
Đều là những kẻ ưa gom ánh sáng về mình
Miệng trăng làm khổ đời, còn miệng cô thản nhiên.
 
Làm mọi thứ trở thành đá, là tài năng đầu tiên
Của cô ở đây, còn tôi thấy mình trong lăng mộ
Gõ ngón tay trên bàn cẩm thạch, cô tìm thuốc lá
Hằn học như phụ nữ nhưng không cáu bẳn bực mình
Rồi thốt ra một điều gì có chứng cớ hiển nhiên.
 
Trăng cũng lăng mạ những thần dân của mình
Nhưng giữa ban ngày trăng quả là lố bịch
Sự bất mãn của cô ở trong bàn tay khác
Xuyên qua đường bưu điện, vẻ quyến rũ thường xuyên
Trắng và trong, nhưng như thán khí lan truyền.
 
Không ngày nào không nghe về cô những cái tin
Có thể cô đi dạo ở châu Phi, nhưng nghĩ về tôi đấy.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]