Bước tới nội dung

Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức

Tòa án Hiến pháp Liên bang
Bundesverfassungsgericht
Thành lập1951[1]
Vị tríKarlsruhe, Baden-Württemberg, Đức
Tọa độ49°00′45″B 8°24′06″Đ / 49,012422°B 8,40161°Đ / 49.012422; 8.40161
Phương pháp bổ nhiệm thẩm phánDo Quốc hội Liên bang ĐứcHội đồng Liên bang Đức bầu ra
Ủy quyền bởiLuật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức
Nhiệm kỳ thẩm phán12 năm (độ tuổi nghỉ hưu bắt buộc là 68 tuổi)
Số lượng thẩm phán16
Ngân sách hàng năm37,17 triệu euro (2021)[2]
Websitewww.bundesverfassungsgericht.de Sửa dữ liệu tại Wikidata
Chủ tịch
Đương nhiệmStephan Harbarth
Từ22 tháng 6 năm 2020
Phó Chủ tịch
Đương nhiệmAnn-Katrin Kaufhold
Từ ngày7 tháng 10 năm 2025

Tòa án Hiến pháp Liên bang (tiếng Đức: Bundesverfassungsgericht [bʊndəsfɐˈfasʊŋsɡəˌʁɪçt] ; viết tắt: BVerfG) là tòa án hiến pháp của Đức. Kể từ khi được thành lập, Tòa án Hiến pháp đặt trụ sở tại Karlsruhe, cũng là nơi đặt trụ sở Tòa án Liên bang Tối cao.[3]

Tòa án Hiến pháp thực hiện quyền giám sát hiến pháp và sở hữu những quyền hạn khác. Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử những vấn đề hiến pháp và đảm bảo cơ quan nhà nước tuân thủ hiến pháp, bao gồm quyền xem xét tu chính án Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức.

Tòa án Hiến pháp Liên bang không phải là một phần của hệ thống xét xử phúc thẩm (ngoại trừ đối với những vụ việc về luật hiến pháp hoặc công pháp quốc tế) và không nhận đơn kháng cáo từ tòa án cấp dưới hoặc các tòa án tối cao của Đức.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án Hiến pháp Liên bang được thành lập vào ngày 23 tháng 5 năm 1949, khi Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức có hiệu lực. Tòa án đi vào hoạt động vào ngày 7 tháng 9 năm 1951 và công bố quyết định đầu tiên vào ngày 9 tháng 9 năm 1951.[4]

Thẩm quyền

[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án Hiến pháp Liên bang có thẩm quyền xét xử những vụ việc sau đây:[5]

  • Tranh chấp về nhiệm vụ và quyền hạn của một cơ quan liên bang tối cao hoặc cơ quan khác được Luật cơ bản hoặc quy định liên bang ủy quyền;
  • Tranh chấp về tính hợp hiến của luật liên bang, luật của bang và tính phù hợp của luật của bang đối với luật liên bang;
  • Tranh chấp về quyền làm luật của Quốc hội Liên bang theo Điều 72 Luật cơ bản;
  • Tranh chấp giữa chính quyền liên bang và chính quyền bang, giữa các bang hoặc trong nội bộ một bang;
  • Khiếu nại hiến pháp của công dân về vi phạm quyền công dân;
  • Khiếu nại hiến pháp của chính quyền địa phương về vi phạm quyền tự trị địa phương;
  • Khiếu nại hiến pháp của chính đảng về việc không được công nhận là chính đảng tham gia bầu cử Quốc hội Liên bang; và
  • Những vụ việc khác do Luật cơ bản quy định.

Tòa án Hiến pháp Liên bang cũng có những quyền hạn sau đây:

  • Giải tán chính đảng vi phạm hiến pháp và hạn chế tài trợ nhà nước của chính đảng có khuynh hướng "phá hoại hoặc phế bỏ trật tự tự do dân chủ cơ bản";[6]
  • Giải quyết tranh chấp bầu cử Quốc hội Liên bang;
  • Quyết định bãi nhiệm, miễn nhiệm tổng thống, thẩm phán theo đề nghị của Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và chính phủ liên bang.

Thủ tục

[sửa | sửa mã nguồn]

Quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các cơ quan hiến pháp liên bang, bang, tòa án và cơ quan công quyền.[7]

Khiếu nại hiến pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Công dân bị cơ quan công quyền xâm phạm quyền cơ bản có quyền khiếu nại hiến pháp. Có thể khiếu nại hiến pháp đối với văn bản của tất cả ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp, ví dụ như bản án, quyết định của tòa án, văn bản hành chính và luật.[4]

Hầu hết các khiếu nại hiến pháp đều do các Tòa chuyên trách giải quyết. Quyết định của Tòa chuyên trách phải nhất trí. Trong trường hợp Tòa chuyên trách không nhất trí hoặc luật của Quốc hội Liên bang trái với Hiến pháp thì toàn thể Hội đồng xét xử giải quyết khiếu nại.[8]

Giám sát hiến pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh chấp cơ quan là tranh chấp về pháp luật giữa những cơ quan quốc gia về quyền lợi và nghĩa vụ xuất phát từ địa vị đặc biệt trong luật lệ về hiến pháp, tức là xuất phát từ các quy định hay quy chế có trong sự tự quản lý hành chính của các cơ quan đó.

Tranh chấp liên bang – tiểu bang xảy ra khi có ý kiến khác nhau giữa liên bang và tiểu bang thí dụ như về vấn đề thẩm quyền ban hành luật lệ.

Giải tán chính đảng

[sửa | sửa mã nguồn]

Quá nửa số nghị sĩ Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và chính phủ liên bang có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp Liên bang giải tán chính đảng.

Tòa án Hiến pháp Liên bang đã cấm Đảng Đế chế Xã hội chủ nghĩa (năm 1952) và Đảng Cộng sản Đức (năm 1956). Tòa án Hiến pháp Liên bang bác kiến nghị cấm Đảng Dân chủ Quốc gia Đức vào năm 2003, nhưng quyết định hạn chế tài trợ nhà nước của đảng vào năm 2024.

Khiếu nại bầu cử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên Quốc hội liên bang, Hội đồng liên bang, chính phủ liên bang hay ít nhất là 101 công dân có quyền bầu cử (quorum) có thể phát đơn "khiếu nại kiểm tra bầu cử". Thêm vào đó phải có lỗi lầm do cách làm việc hay không thực hiện trong lúc bầu cử có tác động đến việc chia số ghế trong Quốc hội liên bang.

Tổ chức

[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án Hiến pháp Liên bang gồm có 16 thẩm phán thuộc hai Hội đồng xét xử, mỗi Hội đồng xét xử có tám thẩm phán. Mỗi Hội đồng xét xử tổ chức các Tòa chuyên trách, mỗi Tòa gồm ba thẩm phán.[9]

Bốn thẩm phán của mỗi Hội đồng xét xử do Quốc hội Liên bang bầu ra, bốn thẩm phán do Hội đồng Liên bang bầu ra. Thẩm phán phải được ít nhất hai phần ba số thành viên mỗi cơ quan biểu quyết tán thành. Ít nhất ba thẩm phán của mỗi Hội đồng xét xử được bầu trong số thẩm phán của các tòa án tối cao liên bang.[10][11] Công dân Đức đủ 40 tuổi trở lên và đáp ứng các tiêu chuẩn làm thẩm phán theo Luật Tư pháp Đức có thể được bầu làm thẩm phán Tòa án Hiến pháp Liên bang.[11] Thẩm phán không được kiêm nhiệm nghị sĩ Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang, thành viên chính phủ liên bang hoặc chính quyền bang.[12]

Nhiệm kỳ của thẩm phán là 12 năm hoặc cho đến độ tuổi nghỉ hưu bắt buộc là 68 tuổi. Thẩm phán không thể được bầu lại nhiệm kỳ thứ hai. Thẩm phán hết nhiệm kỳ tiếp tục giữ chức vụ cho đến khi thẩm phán kế nhiệm được bầu.[12]

Thẩm phán đương nhiệm

[sửa | sửa mã nguồn]
Họ tên Nhiệm kỳ Đề cử Cơ quan bầu
Hội đồng thứ nhất
Stephan Harbarth (sinh năm 1971)

(Chủ tịch Tòa án, Chủ tịch Hội đồng thứ nhất)

Tháng 11 năm 2018 – Tháng 11 năm 2030 (hết nhiệm kỳ) CDU/CSU Quốc hội Liên bang (chức danh thẩm phán)

Hội đồng Liên bang (chức danh chủ tịch)

Miriam Meßling [de] (sinh năm 1973) Tháng 4 năm 2023 – Tháng 4 năm 2035 (hết nhiệm kỳ)[13] SPD Hội đồng Liên bang
Yvonne Ott [de] (sinh năm 1963) Tháng 11 năm 2016 – Tháng 11 năm 2028 (hết nhiệm kỳ) SPD Hội đồng Liên bang
Henning Radtke [de] (sinh năm 1962) Tháng 7 năm 2018 – May 2030 (nghỉ hưu bắt buộc) CDU/CSU Hội đồng Liên bang
Ines Härtel [de] (sinh năm 1972) Tháng 7 năm 2020 – Tháng 7 năm 2032 (hết nhiệm kỳ) SPD Hội đồng Liên bang
Heinrich Amadeus Wolff [de] (sinh năm 1965) Tháng 6 năm 2022 – Tháng 6 năm 2033 (nghỉ hưu bắt buộc)[14] FDP Quốc hội Liên bang
Martin Eifert [de] (sinh năm 1965) Tháng 2 năm 2023 – 2033 (nghỉ hưu bắt buộc)[15] Đảng Xanh Quốc hội Liên bang
Günter Spinner [de] (sinh năm 1972) Tháng 11 năm 2025 – Tháng 11 năm 2037 (hết nhiệm kỳ) CDU/CSU Quốc hội Liên bang
Hội đồng thứ hai
Ann-Katrin Kaufhold (sinh năm 1976)

(Phó Chủ tịch Tòa án, Chủ tịch Hội đồng thứ hai)

Tháng 11 năm 2025 – Tháng 11 năm 2037 (hết nhiệm kỳ) SPD Quốc hội Liên bang (chức danh thẩm phán)

Hội đồng Liên bang (chức danh phó chủ tịch)

Christine Langenfeld (sinh năm 1962) Tháng 7 năm 2016 – Tháng 7 năm 2028 (hết nhiệm kỳ) CDU/CSU Hội đồng Liên bang
Astrid Wallrabenstein [de] (sinh năm 1969) Tháng 6 năm 2020 – Tháng 6 năm 2032 (hết nhiệm kỳ) Đảng Xanh Hội đồng Liên bang
Rhona Fetzer [de] (sinh năm 1963) Tháng 1 năm 2023 – Tháng 9 năm 2031 (nghỉ hưu bắt buộc) SPD Quốc hội Liên bang
Thomas Offenloch [de] (sinh năm 1972) Tháng 1 năm 2023 – Tháng 1 năm 2035 (hết nhiệm kỳ) FDP Quốc hội Liên bang
Peter Frank (sinh năm 1968)[16] Tháng 12 năm 2023 – Tháng 12 năm 2035 (hết nhiệm kỳ) CDU/CSU Hội đồng Liên bang
Holger Wöckel [de] (sinh năm 1976)[16] Tháng 12 năm 2023 – Tháng 12 năm 2035 (hết nhiệm kỳ) CDU/CSU Hội đồng Liên bang
Sigrid Emmenegger [de] (sinh năm 1976) Tháng 11 năm 2025 – Tháng 11 năm 2037 (hết nhiệm kỳ) SPD Quốc hội Liên bang

Chủ tịch, phó chủ tịch

[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch và phó chủ tịch Tòa án Hiến pháp Liên bang do Quốc hội Liên bang và Hội đồng Liên bang luân phiên bầu ra. Thông thường thì chủ tịch của một Hội đồng xét xử được bầu làm chủ tịch Tòa án, sau khi chủ tịch hết nhiệm kỳ thì phó chủ tịch được chỉ định là người kế nhiệm. Chủ tịch Tòa án Hiến pháp Liên bang là chủ tịch của một Hội đồng xét xử và chủ trì các phiên toàn thể của Tòa án Hiến pháp Liên bang. Phó chủ tịch là chủ tịch của Hội đồng xét xử còn lại. Chủ tịch Tòa án Hiến pháp Liên bang xếp thứ năm trong thứ tự ưu tiên của Đức.

No. Hình Họ tên

(Năm sinh - Năm mất)

Chức vụ trước Nhậm chức Mãn nhiệm Sen. Phó chủ tịch
1 Hermann Höpker-Aschoff

(1883–1954)

Nghị sĩ Quốc hội Liên bang (1949–1951) 7 tháng 9 năm 1951 15 tháng 1 năm 1954 (Qua đời khi tại nhiệm) 1 Rudolf Katz (1951–1954)
2 Josef Wintrich

(1891–1958)

Chủ tịch Tòa án phúc thẩm khu vực München (1953) 23 tháng 3 năm 1954 19 tháng 10 năm 1958 (Qua đời khi tại nhiệm) 1 Rudolf Katz (1954–1958)
3 Gebhard Müller

(1900–1990)

Thủ hiến Baden-Württemberg (1953–1958) 8 tháng 1 năm 1959 8 tháng 12 năm 1971 1 Rudolf Katz (1959–1961), Friedrich Wilhelm Wagner (1961–1967), Walter Seuffert (1967–1971)
4 Ernst Benda

(1925–2009)

Nghị sĩ Quốc hội Liên bang (1957–1971) 8 tháng 12 năm 1971 20 tháng 12 năm 1983 1 Walter Seuffert (1971–1975), Wolfgang Zeidler (1975–1983)
5 Wolfgang Zeidler

(1924–1987)

Chủ tịch Tòa án Hành chính Liên bang Tối cao (1970–1975) 20 tháng 12 năm 1983 16 tháng 11 năm 1987 2 Roman Herzog (1983–1987)
6 Roman Herzog

(1934–2017)

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Baden-Württemberg (1980–1983) 16 tháng 11 năm 1987 30 tháng 6 năm 1994 (từ chức) 1 Ernst Gottfried Mahrenholz (1987–1994), Jutta Limbach (1994)
7 Jutta Limbach

(1934–2016)

Berlin Senator of Justice (1989–1994) 14 tháng 9 năm 1994 10 tháng 4 năm 2002 2 Johann Friedrich Henschel (1994–1995), Otto Seidl (1995–1998), Hans-Jürgen Papier (1998–2002)
8 Hans-Jürgen Papier

(sinh năm 1943)

Giáo sư luật hiến pháp tại Đại học Ludwig Maximilian München (1992–1998) 10 tháng 4 năm 2002 16 tháng 3 năm 2010 1 Winfried Hassemer (2002–2008), Andreas Voßkuhle (2008–2010)
9 Andreas Voßkuhle

(sinh năm 1963)

Giáo sư khoa học chính trị và triết học pháp luật tại Đại học Freiburg (từ năm 1999)

Hiệu trưởng Đại học Freiburg (2008)

16 tháng 3 năm 2010 22 tháng 6 năm 2020 2 Ferdinand Kirchhof (2010–2018), Stephan Harbarth (2018–2020)
10 Stephan Harbarth

(sinh năm 1971)

Nghị sĩ Quốc hội Liên bang (2009–2018) 22 tháng 6 năm 2020 Đương nhiệm 1 Doris König (từ năm 2020)

Chỉ trích

[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án Hiến pháp Liên bang đã bị chỉ trích là can thiệp vào chính trị, cản trở hoạt động của nghị viện sau khi hủy bỏ những chính sách, luật như Luftsicherheitsgesetz,[17] Mietendeckel [de] (trần tiền thuê nhà) của Berlin[18] và một phần của Ostpolitik.[19] Nhiều quyết định của Tòa án gây biểu tình phản đối.[11][12][20]

Trụ sở

[sửa | sửa mã nguồn]
Trụ sở Tòa án Hiến pháp Liên bang tại Karlsruhe

Trụ sở Tòa án Hiến pháp Liên bang tại Karlsruhe do kiến trúc sư Paul Baumgarten thiết kế theo lối kiến trúc hiện đại, được xây dựng từ năm 1965 đến năm 1969.[4]

Thư viện luật nội bộ của Tòa án Hiến pháp Liên bang được thành lập vào năm 1951, trọng tâm là luật công, luật hiến pháp, luật hành chính, lý thuyết về nhà nước và xã hội, chính trị và lịch sử đương đại. Thư viện là một trong những thư viện luật lớn nhất của một nước nói tiếng Đức với hơn 800.000 ấn phẩm.[4]

Quyết định quan trọng

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Vụ án Tên gọi không chính thức Tóm tắt Quyết định Hậu quả
Nhân phẩm
1993 2 BvF 2/90[21] (Không có) Pháp luật liên bang cho phép phá thai trong 12 tuần đầu sau khi phôi làm tổ. Việc phá thai là hợp pháp nếu người phụ nữ có thai đi tư vấn thai kỳ ít nhất ba ngày trước và tự ra quyết định.
  • Ngoại trừ trường hợp hiếp dâm hoặc đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người mẹ thì phá thai vi phạm quyền sống của phôi và phải bị cấm.
Phá thai bị cấm trong vòng ba tháng đầu của thai kỳ nhưng không có hình phạt.
2003 1 BvR 426/02[22] Benetton II Tòa án Liên bang Tối cao cấm tạp chí Stern xuất bản một quảng cáo gây sốc của Benetton Group. Quảng cáo đó cho thấy một vòng mông trần với dòng chữ: "dương tính HIV".
  • Nhân phẩm là tuyệt đối. Tất cả các quyền cơ bản đều là sự khẳng định nhân phẩm nên không thể có sự đánh đổi giữa nhân phẩm và bất cứ quyền cơ bản nào.
Vụ án được trả về Tòa án Liên bang Tối cao lần thứ hai. Sau quyết định Benetton II, nguyên đơn rút đơn kiện nên tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
2006 1 BvR 357/05[23] Quyết định luật an ninh hàng không dân dụng Pháp luật liên bang cho phép quân đội bắn hạ máy bay dân dụng trong trường hợp có nguy cơ bị sử dụng làm vũ khí gây nguy hiểm đến tính mạng con người và việc bắn hạ là phương án cuối cùng.
  • Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Không thể có sự đánh đổi giữa tính mạng người vô tội.
  • Quân đội có thể cứu trợ thiên tai, nhưng việc sử dụng vũ khí quân dụng vi phạm hiến pháp.
  • Chỉ chính phủ liên bang mới có quyền ra lệnh quân đội cứu trợ thiên tai.
Điều khoản vi hiến của luật an ninh hàng không dân dụng bị hủy bỏ. Chính phủ chỉ được bắn hạ một máy bay nếu không có người lái hoặc chỉ có nghi phạm trên máy bay.
Bảo vệ quyền cơ bản
1957 1 BvR 253/56[24] Quyết định Elfes (Elfes-Urteil) Wilhelm Elfes, một thành viên Liên minh Dân chủ Kitô giáo Đức, bị cáo buộc hoạt động chống phá hiến pháp nhưng không bị kết tội. Tuy nhiên, ông bị từ chối cấp hộ chiếu nhiều lần trên cơ sở này.[25] Elfes khởi kiện chính quyền về quyết định này
  • Quyền tự do dân sự được giải thích theo nghĩa rộng.
  • Tòa án Hiến pháp Liên bang xác lập "Công thức Heck" đặt tên theo báo cáo viên của vụ án, Thẩm phán Heck). Công thức Heck xác định Tòa án Hiến pháp Liên bang chỉ thụ lý một vụ việc trong những trường hợp sau đây:
    • Phạm vi của một quy phạm hiến pháp bị hiểu sai;
    • Việc áp dụng pháp luật là tùy tiện; hoặc
    • Tòa án vi phạm nguyên tắc hạn chế tư pháp
Elfes thua kiện nhưng Tòa án Hiến pháp Liên bang xác lập bảo đảm tự do dân sự. Thẩm phán Heck xác định phạm vi thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp Liên bang đối với hệ thống tòa án chuyên trách.
1958 1 BvR 400/51[26] Quyết định Lüth (Lüth-Urteil) Tòa án Hamburg cấm Erich Lüth kêu gọi tẩy chay bộ phim Immortal Beloved. Lüth lập luận rằng hành động của mình là hợp pháp vì đạo diễn Veit Harlan là tác giả của bộ phim bài Do Thái Jud Süß vào năm 1940.
  • Luật cơ bản gián tiếp ràng buộc luật tư.
  • Tòa án Hiến pháp Liên bang không xét xử phúc thẩm về vi phạm luật liên bang.
Tòa án Hiến pháp Liên bang một mặt tự hạn chế thẩm quyền, mặt khác mở rộng phạm vi áp dụng của Luật cơ bản đến luật tư. Luật cơ bản không ràng buộc công dân nhưng ràng buộc ngành lập pháp trong việc làm luật tư và ngành tư pháp trong việc giải thích luật tư.
2021 1 BvR 2656/18, 1 BvR 78/20, 1 BvR 96/20, 1 BvR 288/20[27] (Klimaschutz) Năm 2019, Quốc hội Liên bang thông qua Luật Bảo vệ khí hậu nhằm nội luật hóa Thỏa thuận Paris về khí hậu. Đạo luật quy định các mục tiêu cắt giảm CO2 đến năm 2030, nhưng không quy định các biện pháp đạt mục tiêu tăng nhiệt độ không quá 1.5°C/2°C sau đó. Chi bộ Đức của phong trào Bãi khóa vì khí hậu khởi kiện chính quyền liên bang, cho rằng đạo luật vi phạm quyền tự do của thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai.
  • Luật cơ bản yêu cầu pháp luật phải bảo vệ quyền tự do của thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai. Pháp luật không được vi phạm quyền tự do của thế hệ tương lai.
Tòa án Hiến pháp Liên bang yêu cầu chính quyền liên bang thi hành đạo luật sao cho thế hệ tương lai không phải lãnh hầu hết trách nhiệm đạt các mục tiêu của Thỏa thuận Paris. Quyền tự do cá nhân không thể được giải thích theo cách hạn chế quyền tự do cá nhân của thế hệ tương lai một cách tùy tiện.
Phát triển quyền cơ bản
1983
  • 1 BvR 209/83
  • 1 BvR 269/83
  • 1 BvR 362/83
  • 1 BvR 420/83
  • 1 BvR 440/83
  • 1 BvR 484/83[28]
Quyết định điều tra dân số (Volkszählungsurteil) Công dân khởi kiện chính quyền về cuộc điều tra dân số năm 1983
  • Tự do cá nhân trong thời kỳ hiện đại bao gồm quyền không bị xử lý, sử dụng, thu thập, lưu trữ và tiết lộ dữ liệu cá nhân không giới hạn. Không có khái niệm dữ liệu không liên quan.
Cuộc điều tra dân số bị trì hoãn đến năm 1987 để cho phép sửa đổi luật điều tra dân số cho phù hợp với quyết định. Quyết định của tòa án thiết lập quyền tự quyết thông tin và là cơ sở của Luật Bảo vệ dữ liệu Đức (1990)Chỉ thị Bảo vệ dữ liệu Liên minh châu Âu (1998).
2018 1 BvR 3080/09 Quyết định cấm sân vận động (Stadionverbots-Entscheidung) Một người hâm mộ bóng đá bị cấm vào sân vận động trên cả nước
  • Mittelbare Drittwirkung applies to some powerful non-state organisations within some specific constellations, mandating the protection of individual right.
Higher requirements for the exclusion of individuals from some public events, indirect impact on the actions of large platforms.
Tự do ngôn luận
2000 1 BvR 1762/95 & 1 BvR 1787/95[29] Benetton I Tòa án liên bang tối cao cấm tạp chí Stern xuất bản quảng cáo gây sốc của Benetton Group. Quảng cáo cho thấy một con chim bị tẩm dầu, lao động trẻ em và một vòng mông trần với dòng chữ: "dương tính HIV".
  • Việc xuất bản ý kiến của một bên thứ ba được bảo vệ theo tự do ngôn luận chính nó được bảo vệ.
Vụ án được trả về Tòa án liên bang tối cao. Quyết định mới của tòa án bị kháng cáo trong vụ "Benetton II".
Tự do nghệ thuật
1971 1 BvR 435/68[30] Quyết định Mephisto (Mephisto-Entscheidung) The heir of Gustaf Gründgens successfully sued the publisher of the 1936 novel Mephisto by Gründgens' former brother-in-law Klaus Mann to stop publishing the book. It was prohibited by all lower courts.
  • Luật cơ bản đảm bảo tự do nghệ thuật trong khuôn khổ nhân phẩm và quyền nhân thân. Việc cân bằng tự do nghệ thuật và quyền nhân thân được quyết định theo từng trường hợp.
Due to a split decision the ban of the novel was upheld. It was the first decision of the court on the interpretation of freedom of art. Apart from the concrete decision, the court made clear that freedom of art cannot be limited by general laws.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Bundesverfassungsgericht – Library". www.bundesverfassungsgericht.de.
  2. "Gesetz über die Feststellung des Bundeshaushaltsplans für das Haushaltsjahr 2021 (Haushaltsgesetz 2021)" (PDF). Bundeshaushalt.de. Bundesministerium der Finanzen (BMF). ngày 21 tháng 12 năm 2020. tr. 18. Bản gốc (PDF; 34,1 MB) lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2021.
  3. Donald P. Kommers & Russell A. Miller, The Constitutional Jurisprudence of the Federal Republic of Germany (3d ed.: Duke University Press, 2012), p. 40.
  4. 1 2 3 4 Gesley, Jenny (ngày 18 tháng 2 năm 2026). "FALQs: The German Federal Constitutional Court Turns 75 | In Custodia Legis". The Library of Congress. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
  5. Điều 94 Hiến pháp Đức (1949)
  6. Điều 21 Hiến pháp Đức (1949)
  7. Quốc hội Liên bang Đức (ngày 11 tháng 8 năm 1993). "Điều 31". Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang.
  8. "Reaching a decision" (bằng tiếng Anh). Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức.
  9. Nguyễn Quang Du (ngày 5 tháng 12 năm 2021). "Tòa án Hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức". Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
  10. Lê Phương Hoa (ngày 10 tháng 1 năm 2026). "Khiếu kiện hiến pháp tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức: góc nhìn so sánh và gợi mở cho Việt Nam". Tạp chí Công Thương. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2026.
  11. 1 2 3 "Tasks & organisation" (bằng tiếng Anh). Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2026.
  12. 1 2 3 Điều 93 Hiến pháp Đức (1949)
  13. "Rede: Richterinnenwechsel am Bundesverfassungsgericht". Tổng thống Đức. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2023.
  14. "Rede: Richterwechsel am Bundesverfassungsgericht". Tổng thống Đức. ngày 22 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2022.
  15. "Rede: Richterwechsel am Bundesverfassungsgericht". Tổng thống Đức. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2023.
  16. 1 2 "Entlassung und Ernennung von Richtern des Bundesverfassungsgerichts". Tổng thống Đức. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2023.
  17. "Bundesverfassungsgericht – Entscheidungen – Nichtigkeit der Abschussermächtigung im Luftsicherheitsgesetz: fehlende Gesetzgebungsbefugnis des Bundes für einen Einsatz der Streitkräfte mit spezifisch militärischen Waffen bei der Bekämpfung von Naturkatastrophen und besonders schweren Unglücksfällen – LuftSiG § 14 Abs 3 mit dem Recht auf Leben iVm der Menschenwürdegarantie unvereinbar, soweit von dem Einsatz der Waffengewalt tatunbeteiligte Menschen an Bord des Luftfahrzeugs betroffen werden" [Federal Constitutional Court – Decisions – Invalidity of the launch authorization in the Aviation Security Act: lack of legislative power of the federal government for the use of armed forces with specifically military weapons in the fight against natural disasters and particularly serious accidents – Aviation Security Act, § 14 Paragraph 3 with the right to life in conjunction with the guarantee of human dignity incompatible, as far as of People on board the aircraft who are not involved in the use of armed violence are affected]. Bundesverfassungsgericht (bằng tiếng Đức). ngày 15 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2021.
  18. "Bundesverfassungsgericht – Entscheidungen – Gesetz zur Mietenbegrenzung im Wohnungswesen in Berlin ("Berliner Mietendeckel") nichtig" [Federal Constitutional Court – decisions – law on rent limitation in housing in Berlin ("Berliner Mietendeckel") void]. Bundesverfassungsgericht (bằng tiếng Đức). ngày 25 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2021.
  19. "Kritik am Bundesverfassungsgericht: Hat das BVG zu viel Einfluss auf die Politik?". Berliner Zeitung (bằng tiếng Đức). ngày 21 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2021.
  20. Häußler, Maria (ngày 15 tháng 4 năm 2021). "Demonstration am Hermannplatz: Mit Topfdeckeln gegen den Mietenwahnsinn" [Demonstration at Hermannplatz: With pot lids against the rent madness]. Berliner Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2021.
  21. "Bundesverfassungsgericht Urt. v. 28.05.1993, Az.: 2 BvF 2/90" [Federal Constitutional Court, decided on May 28th, 1993, Case 2 BvF 2/90]. Jurion (bằng tiếng Đức). Cologne: Wolters Kluwer. ngày 28 tháng 5 năm 1993. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  22. "Leitsätze zum Beschluss des Ersten Senats vom 11. März 2003" [Guiding principles of the decision of the first senate, decided on March 11th, 2003]. Federal Constitutional Court – Decisions (bằng tiếng Đức). Karlsruhe: Federal Constitutional Court. ngày 11 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  23. "Urteil des Ersten Senats vom 15. Februar 2006" [Federal Constitutional Court verdict, decided on February 15th, 2006]. Federal Constitutional Court – Decisions (bằng tiếng Đức). Karlsruhe: Federal Constitutional Court. ngày 15 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  24. "Urteil des Ersten Senats vom 16. Januar 1957" [Federal Constitutional Court verdict, decided on January 16th, 1957]. Federal Constitutional Court – Decisions (bằng tiếng Đức). Karlsruhe: Federal Constitutional Court. ngày 16 tháng 1 năm 1957. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018.
  25. Rojahn, Gunther (ngày 11 tháng 1 năm 2011). "Elfes – Mehr als ein Urteil" [Elfes – More than a verdict]. Dissertations of the University (bằng tiếng Đức). Berlin: Đại học Tự do Berlin. doi:10.17169/refubium-14242. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018.
  26. "BVerfGE 7, 198 – Lüth" [Case BVerfGE 7, 198 Lüth]. Das Fallrecht (DFR) Verfassungsrecht (bằng tiếng Đức). Bern: Đại học Bern. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  27. "Pressemitteilung Nr. 31/2021 vom 29. April 2021" [press release Nr. 31/2021] (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  28. "Volkszählung ("Volkszählungsurteil")" [Census ("Census Verdict")] (bằng tiếng Đức). Hamburg: OpenJur. tr. openJur 2012, 616. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018.
  29. "Leitsätze zum Urteil des Ersten Senats vom 12. Dezember 2000" [Guiding principles of the decision of the first senate, decided on December 12th, 2000]. Federal Constitutional Court – Decisions (bằng tiếng Đức). Karlsruhe: Federal Constitutional Court. ngày 12 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  30. "BVerfG, Beschluss vom 24.02.1971 – 1 BvR 435/68" [Federal Constitutional Court, Court order, decided on February 24th, 1971 – 1 BvR 435/68]. BVerfG Rechtsprechung (bằng tiếng Đức). Hamburg: OpenJur e.V. ngày 24 tháng 2 năm 1971. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2018.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Jutta Limbach (Hrsg.): Das Bundesverfassungsgericht. Geschichte – Aufgabe – Rechtsprechung. (Tòa án Hiến pháp Liên bang. Lịch sử - Nhiệm vụ - Phán quyết) C. F. Müller, Heidelberg 2000 (Motive, Texte, Materialien; 91), ISBN 3-8114-2143-3
  • Jutta Limbach: Das Bundesverfassungsgericht. 8Tòa án Hiến pháp Liên bang) Beck, München 2001 (Beck'sche Reihe, 2161: C.H.Beck Wissen), ISBN 3-406-44761-9
  • Horst Säcker: Das Bundesverfassungsgericht. (Tòa án Hiến pháp Liên bang) 6. Auflage. Bundeszentrale für politische Bildung, Bonn 2003 (Schriftenreihe der Bundeszentrale für Politische Bildung, 405), ISBN 3-89331-493-8
  • Klaus Schlaich: Das Bundesverfassungsgericht. Stellung, Verfahren, Entscheidungen; ein Studienbuch. (Tòa án Hiến pháp Liên bang. Vị trí, quy trình, các quyết định: một quyển sách nghiên cứu) 6. neubearbeitete Auflage. Beck, München 2004 (Juristische Kurz-Lehrbücher), ISBN 3-406-51387-5
  • Uwe Wesel: Der Gang nach Karlsruhe. Das Bundesverfassungsgericht in der Geschichte der Bundesrepublik. (Con đường đi đến Karlsruhe. Tòa án Hiến pháp Liên bang trong lịch sử của Cộng hòa Liên bang) 1. Auflage. Blessing, München 2004, ISBN 3-89667-223-1

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]