Takin' Back My Love

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
"Takin' Back My Love"
Phiên bản Ciara
Đĩa đơn của Enrique Iglesias hợp tác với Ciara/Sarah Connor/Tyssem
từ album Greatest Hits
Phát hành12 tháng 1 năm 2009 (Pháp)
20 tháng 3 năm 2009 (Đức)[1]
Định dạngCD đĩa đơn, đĩa đơn maxi, download nhạc số
Thu âm2008
Thể loạiEuropop, R&B
Thời lượng3:51
Hãng đĩaInterscope
Sáng tácEnrique M Iglesias, Frankie Storm, Nadir Khayat[2]
Sản xuấtRedOne
Thứ tự Enrique Iglesias
"Away"
(2008)
"Takin' Back My Love"
(2008)
"Gracias a Tí" (Remix)
(2009)
Thứ tự đĩa đơn của Ciara
"Never Ever"
(2009)
"Takin' Back My Love"
(2009)
"Love Sex Magic"
(2009)
Thứ tự đĩa đơn của Sarah Connor
"I'll Kiss It Away"
(2008)
"Takin' Back My Love"
(2009)
Bìa khác
Phiên bản Sarah Connor
Phiên bản Sarah Connor
Bìa CD Single Pháp
Phiên bản Tyssem
Phiên bản Tyssem

"Takin' Back My Love" là một bài hát của Enrique IglesiasCiara. Nó được phát hành làm đĩa đơn thứ hai từ album greatest hits thứ hai của Iglesias Greatest Hits vào đầu năm 2009.[3] Ca khúc được sản xuất bởi RedOne, người cũng đồng sáng tác ca khúc này cùng Iglesias và Frankie Storm.

Phiên bản gốc của ca khúc có sự góp mặt của nữ ca sĩ nhạc R&B/pop Ciara và đây là phiên bản đã được phát hành quốc tế. Một phiên bản thứ hai góp mặt Sarah Connor đã phát hành ở Đức, Thụy Sĩ, Nga, Áo, Bồ Đào NhaCộng hòa Séc. Ở Pháp, ca khúc này đã được thu âm lại bởi ca sĩ R&B người Pháp Tyssem (trong đó phần hát của cô được hát bằng tiếng Pháp) với tên gọi "Takin' Back My Love (Sans l'ombre d'un remord)".[4]

Phát hành và quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Iglesias biểu diễn ca khúc lần đầu trên chương trình truyền hình Pháp Star Academy cùng với một trong những người chơi của chương trình này, Gaultier. Nó đã nhận được sự đón nhận nhiệt tình khi cả ban giám khảo và khán giả trong trường quay đứng dậy vỗ tay.[5] Chính sự thể hiện này làm cho phiên bản Ciara của ca khúc đã đạt vị trí #3 ở Pháp.

Enrique và Ciara cùng nhau thể hiện ca khúc lần đầu tiên tại Pro Bowl Half-time Show 2009 ở Hawaii. Sau đó, do bận rộn với công việc thu âm, Ciara đã không tham gia vào công việc quảng cáo cho đĩa đơn ở châu Âu, và nữ ca sĩ người Úc Gabriella Cilmi đã được mời để hát trong hầu hết những lần ca khúc được biểu diễn ở châu Âu. Enrique chỉ thể hiện ca khúc lần thứ hai cùng Ciara ở Luân Đôn, tại Capital FM Summertime Ball 2009.[6]

Iglesias cũng đã thể hiện ca khúc cùng Sarah Connor trong chương trình Đức Nur Die Liebe Zaehlt.

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc cho "Takin' Back My Love" được quay ở Los Angeles ngày 13 tháng 1 năm 2009, đạo diễn bởi đạo diễn người Na Uy Ray Kay.[7] Nó được phát hành vào tháng 2 năm 2009. Bối cảnh chính của video là ở một ngôi nhà sang trọng, trong đó một cặp tình nhân (Enrique Iglesias và Ciara) cãi vã nhau và đập vỡ đồ đạc trong nhà.

Một video âm nhạc cho phiên bản có Sarah Connor đã phát hành vào tháng 3 năm 2009. Nó cũng là video âm nhạc của phiên bản Ciara những có chèn một số cảnh quay hát và nhảy của Sarah Connor.

Video âm nhạc phiên bản Ciara đã được xem hơn 61 triệu lượt trên YouTube.

Danh sách bài hát và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

UK Digital Single (Phát hành 23 tháng 3 năm 2009)
  1. "Takin' Back My Love" (có mặt Ciara) (Radio Edit) - 3:51
  2. "Takin' Back My Love" (có mặt Ciara) (Moto Blanco Radio Mix) - 3:51
  3. "Takin' Back My Love" (Video) - 3:57
France CD Single (Phát hành: 9 tháng 3 năm 2009)
  1. "Takin' Back My Love" (có mặt Tyssem) (Sans L'Ombre D'Un Remord) - 3:51
  2. "Takin' Back My Love" (có mặt Ciara) (Main Version) - 3:51
  3. "Takin' Back My Love" (có mặt Ciara) (Junior Caldera Club Remix) - 5:20
  4. "Takin' Back My Love" (có mặt Ciara) (Glam As You Club Mix) - 7:59
German CD Single (Phát hành 23 tháng 3 năm 2009)
  1. "Takin' Back My Love" (có mặt Sarah Connor) (Radio Mix) – 3:50
  2. "Takin' Back My Love" (có mặt Sarah Connor) (Alternate Mix) – 3:50
  3. "Takin' Back My Love" (có mặt Sarah Connor) (Video) - 3:57

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"Cry Cry" của Oceana
Đĩa đơn quán quân Romanian Singles Chart
5 tháng 7 năm 2009 (1 tuần)
Kế nhiệm:
"Undeva-n Balkani" của Puya
hợp tác với George Horea

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Takin' Back My Love: Amazon.de: Musik”. Truy cập 6 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ [1]
  3. ^ "Website chính thức của Enrique Inglesias", Enrique Iglesias. Truy cập 1 tháng 7 năm 2010.
  4. ^ VirginMega.fr. Truy cập 1 tháng 7 năm 2010
  5. ^ “MYTF1: Infos, émissions, séries US, TF1 en live et replay”. MYTF1. Truy cập 6 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ Enrique & Ciara Performing in London
  7. ^ “Ciara Shares 'Love' with Enrique in New Video”. Rap-Up. Truy cập 6 tháng 3 năm 2015. 
  8. ^ a ă â b c d đ e ê http://acharts.us/swiss_singles_top_100
  9. ^ "Enrique Iglesias feat. Ciara - Takin' Back My Love" (bằng tiếng Hà Lan), ultratop.be. Truy cập 1 tháng 7 năm 2010.
  10. ^ "Enrique Iglesias feat. Ciara - Takin' Back My Love" (bằng tiếng Pháp), ultratop.be. Truy cập 1 tháng 7 năm 2010.
  11. ^ Billboard
  12. ^ Suomen virallinen lista
  13. ^ Antoine Masson, "Disques: la comédie musicale Mozart déjà numéro un" (21 tháng 1 năm 2009), Ozap.com. Truy cập 1 tháng 7 năm 2010
  14. ^ http://www.billboard.com/bbcom/esearch/chart_display.jsp?cfi=801&cfgn=Singles&cfn=Greece&ci=3108230&cdi=10200388&cid=05%2F23%2F2009
  15. ^ Romanian Top 100
  16. ^ [2]
  17. ^ "Turkey Top 20 Chart". Truy cập 1 tháng 7 năm 2010.
  18. ^ [3]
  19. ^ Billboard
  20. ^ “2009 Belgian (Flanders) Singles Chart” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  21. ^ “2009 Belgian (Wallonia) Singles Chart” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  22. ^ “2009 Eurochart Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  23. ^ “Classement des 100 premiers Singles par GfK Music” (PDF) (bằng tiếng Pháp). disqueenfrance. tr. 20. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]