Thảo Điền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phường Thảo Điền
Phường
Địa lý
Tọa độ: 10°48′36″B 106°44′0″Đ / 10.81000°B 106.73333°Đ / 10.81000; 106.73333Tọa độ: 10°48′36″B 106°44′0″Đ / 10.81000°B 106.73333°Đ / 10.81000; 106.73333
Diện tích 3,75 km²[1]
Dân số (1999)  
 Tổng cộng 8559 người[1]
 Mật độ 2282 người/km²
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh
Quận 2
Thành lập 1997[2]
Mã hành chính 27088[1]

Phường Thảo Điền là một phường thuộc quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Phường Thảo Điền có diện tích 3,75 km², dân số năm 1999 là 8559 người,[1] mật độ dân số đạt 2282 người/km².

Hình thành Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn – Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 11 quận của đô thành Sài Gòn cũ và toàn tỉnh Gia Định. Địa bàn Thảo Điền lúc này thuộc xã An Phú, huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

 Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 03/CP về chia tách và thành lập các quận mới. Để cụ thể hóa Nghị định 03/CP cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương, ngày 18 tháng 3 năm 1997, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1195/QĐ-UB về việc thành lập quận 2 được tách ra từ một phần huyện Thủ Đức. Địa bàn quận 2 lúc này gồm 11 phường: Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, An Phú, Thảo Điền, Bình Khánh, Bình An, An Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông. Từ đây, Phường Thảo Điền chính thức được thành lập trên cơ sở tách một phần diện tích và nhân khẩu từ xã An Phú trực thuộc Quận 2 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Điều kiện tự nhiên

Phường Thảo Điền nằm ở phía Bắc của quận 2 với diện tích 375,87 ha. Được hình thành trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của xã An Phú cũ, phía Tây và phía Bắc giáp với quận Bình Thạnh qua sông Sài Gòn, phía Nam giáp phường Bình An và An Phú, phía Đông giáp phường An Phú.

Về khí hậu, mang đặc trưng của khí hậu vùng Nam Bộ nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ khoảng tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ ở Thảo Điền thuộc loại cao. Đỉnh mùa nắng nóng là 400C và thấp nhất vào khoảng 160C vào mùa mưa mát. Trung bình nhiệt độ khoảng 270C.

Địa hình và thổ nhưỡng đặc trưng của phường là bưng thấp ven sông, được bồi đắp bởi phù sa mới nên chủ yếu là đất đen, nền đất yếu. Độ cao so với mực nước biển từ 1 đến 3 mét nên thường bị ngập nước khi thủy triều lên.

Với vị trí địa lý thuận lợi là một Phường nằm ở cửa ngõ phía Đông của thành phố, tiếp giáp quận 1, gần trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh; có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy được đầu tư xây dựng, mở rộng nhiều nên việc đi lại ngày càng thuận lợi hơn. Thảo Điền hội tụ đầy đủ những điều kiện để phát triển thành một khu đô thị mới với những tiến bộ và hiện đại phù hợp với định hướng của Phường trong tương lai.

Xã hội

 Tổng dân số của phường năm 1997 có 2.000 hộ với 8.896 nhân khẩu, đến tháng 12 năm 2010 tăng lên 6.476 hộ với 19.127 nhân khẩu, trong đó số nhân khẩu thường trú là 8.551, còn lại 10.576 người là nhân dân các vùng khác đến sinh sống và làm việc.
 Về tín ngưỡng – tôn giáo, bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên, còn có các tôn giáo khác như Phật giáo (chùa Kỳ Quang), Thiên chúa giáo, đạo Cao Đài…nhìn chung hoạt động và sinh hoạt của các tôn giáo này diễn ra bình thường, đúng nghi lễ thuần túy về tôn giáo. Ngoài ra trên địa bàn phường còn có cơ sở tín ngưỡng dân gian khác như Đình thần Thảo Điền. Tuy theo nhiều tôn giáo khác nhau nhưng đồng bào có đạo luôn giữ được tình đoàn kết, thương yêu nhau trong cộng đồng tình làng, nghĩa xóm với tâm niệm « tốt đời đẹp đạo » và «đạo pháo trong lòng dân tộc ». Các tôn giáo cũng có những đóng góp nhất định trong quá trình đấu tranh cách mạng, gìn giữ hòa bình, xây dựng mối đoàn kết giữa các tôn giáo để cùng xây dựng và phát triển quê hương Thảo Điền.
 Về dân tộc, đa số là dân tộc Kinh, tiếp đến là người Khơme, người Nùng, người Hoa, người Tày, người Chăm…tập trung chủ yếu là sinh viên trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh và công nhân ở các nhà trọ. Chính sự cư ngụ phong phú về dân tộc đã hình thành nên một Thảo Điền với sự đa dạng về văn hóa lối sống, tôn giáo, củng cố thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc để xây dựng nên một nét đẹp văn hóa truyền thống nơi đây.
 Về văn hóa – xã hội, từ năm 1997 sau khi thành lập phường tách ra từ xã An Phú, cơ sở giáo dục còn nhiều khó khăn thiếu thốn, trình độ dân trí còn thấp, công tác nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân gặp nhiều khó khăn, thử thách. Toàn Phường chỉ có 1 Trường cấp 1 với 10 phòng học và 1 trường dân lập Minh Trí dạy từ lớp 1 đến lớp 6. Đến 2013, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học từng bước được bổ sung nâng cấp. Có nhiều trường học các cấp hoạt động hiệu quả trên địa bàn phường: Trường Tiểu học Huỳnh Văn Ngỡi, các cơ sở mầm non tư thục, trường quốc tế, trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Hàng hải. Chất lượng giáo dục ngày càng được chú trọng. Tỷ lệ huy động trẻ vào lớp 1 hàng năm đạt 100%, tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, trung học cơ sở đạt 97%, trung học phổ thông đạt 85%, đã thực hiện tốt công tác xóa mù chữ đạt 99%.
 Từ năm 1997, các khu phố, ấp của phường Thảo Điền đã tích cực thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đến năm 2007 toàn Phường có 6/6 khu phố đạt tiêu chuẩn khu phố văn hóa (riêng Khu phố 3 là khu phố điển hình đã có 14 năm liên tục đạt danh hiệu khu phố văn hóa), 56 tổ dân phố đạt tiêu chuẩn xuất sắc, 1.554 trên tổng số 1.596 hộ gia đình văn hóa; tăng lên 1.926 trên tổng số 1.996 hộ gia đình văn hóa năm 2013. Tháng 4 năm 2012, phường được vinh dự đón nhận danh hiệu Phường văn hóa giai đoạn 2008 – 2010. Năm 2013, Phường được Quận 2 công nhận đạt chuẩn Phường văn minh đô thị. Các hoạt động tuyên truyền và giao lưu văn hóa văn nghệ được tổ chức thường xuyên góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân.

Về kinh tế, trước đây nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đến khoảng thập niên 90 của thế kỷ XX, một thời gian dài thực hiện công cuộc chuyển mình theo hướng đô thị hóa đã dần thay đổi bộ mặt kinh tế của phường. Sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và hiện nay không còn tồn tại trên địa bàn phường. Cơ cấu kinh tế của phường dần chuyển dịch theo hướng phù hợp với quá trình đô thị hóa. Ngày nay, kinh tế của phường chủ yếu tập trung vào các ngành nghề thương mại dịch vụ và hộ kinh doanh cá thể. Các ngành dịch vụ trên địa bàn như tài chính, ngân hàng, vận tại, kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn, nhà cho thuê…đều tăng nhanh tỷ trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tăng cao. Nhiều công trình đã được xây dựng và đưa vào sử dụng: trường học, đường, điện, nước, Trung tâm y tế, Bệnh viện, trụ sở các cơ quan nội chính và Ủy ban nhân dân Phường… Phường luôn tận dụng các tiềm lực hiện có và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút các thành phần kinh tế đến đầu tư, kinh doanh góp phần xây dựng và phát triển phường.

 Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế, cán bộ y tế ngày càng được chú ý đầu tư về số lượng và chất lượng. Các chương trình khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, diện chính sách, tiêm phòng cho trẻ em được duy trì thường xuyên. Công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo, đời sống người dân được chăm sóc chu đáo.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ 03/1997/CP

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]