Bước tới nội dung

Trung Nạp ngôn (Nhật Bản)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lịch sử Nhật Bản
Quốc huy Nhật Bản
Một phần của loạt bài về chính trị và
chính phủ Nhật Bản trong
thời kỳ Narathời kỳ Heian
Daijō-daijin
Tả đại thầnSadaijin
Hữu đại thầnUdaijin
Nội đại thầnNaidaijin
Đại Nạp ngônDainagon
Trung Nạp ngônChūnagon
Thiếu Nạp ngônShōnagon
Tám Bộ
Trung Vụ TỉnhNakatsukasa-shō  
Thức Bộ TỉnhShikibu-shō
Trị Bộ TỉnhJibu-shō
Dân Bộ TỉnhMinbu-shō
Binh Bộ TỉnhHyōbu-shō
Hình Bộ TỉnhGyōbu-shō
Đại Tàng TỉnhŌkura-shō
Cung Nội TỉnhKunai-shō

Trung Nạp ngôn (中納言 Chūnagon?), là một chức quan trong hệ thống Thái chính quan tồn tại từ đầu thời phong kiến cho tới năm 1868. Trung Nạp ngôn là chức vụ nằm giữa Đại Nạp ngônThiếu Nạp ngôn xét về mặt chức vụ và quyền hạn.[1] Thông thường, cơ hội phát sinh cho một người nắm tạm thời chức Trung Nạp ngôn, tức Quyền Trung Nạp ngôn (権中納言 gon-chūnagon?).[2]

Chức vụ Trung Nạp ngôn cùng với cơ cấu Thái chính quan được thiết lập vào năm 702 theo Thái Bảo Luật lệnh. Theo thời gian, số người nắm giữ chức Trung Nạp ngôn thay đổi, từ ba người năm 705 đến bốn người năm 756, tám người năm 1015 và sau cùng là mười người.[1]

Phẩm vị của Trung nạp ngôn là Tòng tam vị, tương đương Trung tướng; nếu xuất thân từ gia tộc lớn có thể cao hơn.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Nussbaum, Louis Frédéric et al. (2005). "Chunagon" in Japan Encyclopedia, p. 128., tr. 128, tại Google Books
  2. Kodansha. (1983). "Ukita Hideie," in Kodansha Encyclopedia of Japan, Vol. 8, pp. 137-138.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]