Vương quốc Hawaii
|
Vương quốc Hawaii
|
|||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Tên bản ngữ
| |||||||||||||
1893–1895: Chính phủ lưu vong | |||||||||||||
Quốc ca:
| |||||||||||||
![]() | |||||||||||||
| Tổng quan | |||||||||||||
| Thủ đô | |||||||||||||
| Ngôn ngữ thông dụng | Hawaiian, English | ||||||||||||
| Tôn giáo | Church of Hawaii | ||||||||||||
| Chính trị | |||||||||||||
| Chính phủ | Quân chủ tuyệt đối (đến 1840) Quân chủ lập hiến (từ 1840) | ||||||||||||
| Monarch | |||||||||||||
• 1795–1819 (first) | Kamehameha I | ||||||||||||
• 1891–1893 (last) | Liliʻuokalani | ||||||||||||
| Kuhina Nui | |||||||||||||
• 1819–1832 (first) | Kaʻahumanu | ||||||||||||
• 1863–1864 (last) | Kekūanāoʻa | ||||||||||||
| Lập pháp | Legislature | ||||||||||||
| House of Nobles | |||||||||||||
• Hạ viện | House of Representatives | ||||||||||||
| Lịch sử | |||||||||||||
| Lịch sử | |||||||||||||
• Thành lập | Tháng 5, 1795 | ||||||||||||
• Liên minh Hawaii | Tháng 3/Tháng 4, 1810[10] | ||||||||||||
• Quân chủ lập hiến | 8 tháng 10, 1840 | ||||||||||||
• Vương quốc Anh chiếm đóng | 25 tháng 2 – 31 tháng 7, 1843 | ||||||||||||
• Tuyên ngôn Pháp–Anh | 28 tháng 11, 1843 | ||||||||||||
• Chế độ quân chủ bị lật đổ | 17 tháng 1, 1893 | ||||||||||||
• Nữ hoàng Liliʻuokalani thoái vị | 24 tháng 1, 1895 | ||||||||||||
| Dân số | |||||||||||||
• 1780 | 400,000 – 800,000 | ||||||||||||
• 1800 | 250,000 | ||||||||||||
• 1832 | 130,313 | ||||||||||||
• 1890 | 89,990 | ||||||||||||
| Kinh tế | |||||||||||||
| Đơn vị tiền tệ | |||||||||||||
| |||||||||||||
| Hiện nay là một phần của | |||||||||||||
Vương quốc Hawaii, còn được gọi là Vương quốc Hawaiʻi (tiếng Hawaii: Ke Aupuni Hawaiʻi [kɛ ɐwˈpuni həˈvɐjʔi]), là một quốc đảo tồn tại từ năm 1795 đến năm 1893, bao gồm tất cả các đảo trong quần đảo Hawaii có người sinh sống. Vương quốc này được thành lập vào năm 1795 khi Kamehameha I, lúc đó là Aliʻi nui xứ Hawaii (tù tưởng), ông đã chinh phục các đảo Oʻahu, Maui, Molokaʻi và Lānaʻi, và thống nhất chúng dưới một chính phủ. Năm 1810, quần đảo Hawaii được thống nhất hoàn toàn khi các đảo Kauaʻi và Niʻihau tự nguyện gia nhập Vương quốc Hawaii. Hai gia tộc lớn lần lượt cai trị vương quốc, đó là dòng Nhà Kamehameha và Nhà Kalākaua.
Sau đó, vương quốc này đã nhận được sự công nhận ngoại giao từ các cường quốc châu Âu và Hoa Kỳ. Một lượng lớn các nhà thám hiểm, thương nhân và thợ săn cá voi người châu Âu và Mỹ sớm bắt đầu đổ bộ vào vương quốc, mang theo các bệnh như giang mai, lao, đậu mùa và sởi, dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng của dân số người Hawaii bản địa. Năm 1887, Vua Kalākaua buộc phải chấp nhận một hiến pháp mới sau một cuộc đảo chính của Honolulu Rifles, một đơn vị quân đội tình nguyện được tuyển mộ từ những người định cư Mỹ. Nữ vương Liliʻuokalani, người kế vị Kalākaua vào năm 1891, đã cố gắng bãi bỏ hiến pháp mới. Sau đó, bà bị lật đổ trong một cuộc đảo chính năm 1893 do Ủy ban An toàn, một nhóm thần dân Hawaii chủ yếu là người gốc Mỹ và châu Âu, được quân đội Hoa Kỳ hỗ trợ, dàn dựng.[11] Ủy ban An toàn đã giải tán vương quốc và thành lập Chính phủ lâm thời và sau là Cộng hòa Hawaii, với ý định để Hoa Kỳ sáp nhập các đảo, điều mà họ đã thực hiện vào ngày 7 tháng 7 năm 1898, thông qua Nghị quyết Newlands. Hawaii trở thành một phần của Hoa Kỳ với tên gọi Lãnh thổ Hawaii cho đến khi trở thành một tiểu bang của Hoa Kỳ vào năm 1959.
Năm 1993, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua Nghị quyết Xin lỗi (Apology Resolution), trong đó thừa nhận rằng "việc lật đổ Vương quốc Hawaii diễn ra với sự tham gia tích cực của các đặc vụ và công dân Mỹ" và "người dân bản địa Hawaii chưa bao giờ trực tiếp từ bỏ các yêu sách về chủ quyền vốn có của họ với tư cách là một dân tộc đối với vùng đất quốc gia của họ, dù thông qua Vương quốc Hawaii hay thông qua một cuộc trưng cầu dân ý hoặc bỏ phiếu". Sự phản đối việc Hoa Kỳ sáp nhập Hawaii đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành phong trào chủ quyền Hawaii, kêu gọi Hawaii độc lập khỏi sự cai trị của Mỹ.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Nguồn gốc
[sửa | sửa mã nguồn]Hawaii ban đầu được định cư bởi những người đi biển Polynesia từ quần đảo Marquesas hoặc Tahiti. Ngày họ đến lần đầu tiên vẫn chưa chắc chắn. Các nghiên cứu khảo cổ học ban đầu cho thấy họ có thể đã đến sớm nhất là vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên,[12] trong khi các phân tích gần đây cho thấy họ không đến Haiwaii cho đến khoảng năm 900–1200 sau Công nguyên.[13] Các hòn đảo được cai trị như những lãnh địa độc lập.
Ở Hawaii cổ đại, xã hội được chia thành nhiều tầng lớp. Những người cai trị đến từ tầng lớp aliʻi[14] với mỗi hòn đảo được cai trị bởi một aliʻi nui riêng biệt.[15] Những người cai trị này được cho là đến từ một dòng dõi cha truyền con nối từ người Polynesia đầu tiên, Papa, người đã trở thành nữ thần đất mẹ của tôn giáo Hawaii.[16] Thuyền trưởng James Cook là người châu Âu đầu tiên đặt chân đến quần đảo Hawaii, trong chuyến đi Thái Bình Dương lần thứ ba của ông (1776–1780). Ông bị giết tại vịnh Kealakekua trên đảo Hawaii vào năm 1779, trong một cuộc tranh chấp về việc chiếm đoạt một chiếc thuyền dài. Ba năm sau, hòn đảo được chuyển giao cho con trai của Kalaniʻōpuʻu là Kīwalaʻō, trong khi quyền lực tôn giáo được chuyển giao cho cháu trai của người cai trị là Kamehameha.

Năm 1782, thủ lĩnh chiến binh sau này trở thành Kamehameha Đại đế, bắt đầu một chiến dịch quân sự nhằm thống nhất các hòn đảo kéo dài 15 năm. Ông thành lập Vương quốc Hawaii vào năm 1795 với sự giúp đỡ của vũ khí và cố vấn phương Tây, chẳng hạn như John Young và Isaac Davis.[17] Mặc dù thành công trong việc tấn công cả Oʻahu và Maui, ông đã thất bại trong việc sáp nhập Kauaʻi, bị cản trở bởi một cơn bão và một bệnh dịch đã tàn phá quân đội của ông. Năm 1810, thủ lĩnh của Kauaʻi đã thề trung thành với Kamehameha.[18] Sự thống nhất đã chấm dứt xã hội Hawaii cổ đại, biến nó thành một chế độ quân chủ lập hiến theo kiểu hệ thống châu Âu. Như vậy, vương quốc này trở thành một ví dụ ban đầu về chế độ quân chủ trong xã hội Polynesia khi sự tiếp xúc với người châu Âu ngày càng gia tăng.[19][20] Những diễn biến chính trị tương tự đã xảy ra (ví dụ) ở Tahiti, Tonga, Fiji và New Zealand (xem Phong trào Vua Māori).
Triều đại Kamehameha (1795–1874)
[sửa | sửa mã nguồn]Từ năm 1810 đến năm 1893, hai gia đình triều đại cai trị Vương quốc Hawaii: Nhà Kamehameha (1795 - 1874) và Nhà Kalākaua (1874–1893). Năm thành viên của gia tộc Kamehameha lãnh đạo chính phủ, mỗi người đều được phong là Kamehameha, cho đến năm 1872. Lunalilo (r. 1873–1874) là thành viên của Gia tộc Kamehameha thông qua mẹ mình. Liholiho (Kamehameha II, r. 1819–1824) và Kauikeaouli (Kamehameha III, r. 1825–1854) là con trai trực hệ của Kamehameha Đại đế.
Trong thời kỳ trị vì của Liholiho (Kamehameha II) (1819–1824), sự xuất hiện của các nhà truyền giáo Cơ đốc và những người săn cá voi đã thúc đẩy những thay đổi trong vương quốc.
Thời kỳ trị vì của Kauikeaouli (1824–1854) với tên gọi Kamehameha III, bắt đầu khi ông còn là người được vợ cả của Kamehameha Đại đế, Vương hậu Kaʻahumanu, người cai trị với tư cách là Hoàng hậu Nhiếp chính và Kuhina Nui, hay Thủ tướng cho đến khi bà qua đời vào năm 1832. Triều đại ba thập kỷ của Kauikeaouli là thời kỳ dài nhất trong lịch sử chế độ quân chủ. Ông đã ban hành Đại Māhele năm 1848, công bố Hiến pháp đầu tiên (1840) và Hiến pháp kế nhiệm (1852) và chứng kiến những tổn thất thảm khốc của người dân do các bệnh dịch mà người phương Tây mang đến.[18]
Alexander Liholiho, Kamehameha IV, (trị vì 1854–1863), đã giới thiệu Anh giáo và các nghi thức hoàng gia vào vương quốc.
Lot, Kamehameha V (trị vì 1863–1872), đã nỗ lực củng cố chủ nghĩa dân tộc Hawaii trong vương quốc.[21]
Khủng hoảng kế vị và bầu cử quân chủ
[sửa | sửa mã nguồn]Chế độ cai trị theo dòng họ Kamehameha kết thúc vào năm 1872 với cái chết của Kamehameha V. Trên giường bệnh, ông đã triệu tập Nữ tù trưởng Bernice Pauahi Bishop để tuyên bố ý định của mình về việc phong bà làm người thừa kế ngai vàng. Bernice từ chối vương miện, và Kamehameha V qua đời mà không chỉ định người thừa kế.
Việc Bishop từ chối nhận vương miện đã buộc cơ quan lập pháp phải bầu ra một vị vua mới. Từ năm 1872 đến năm 1873, một số người thân của dòng họ Kamehameha đã được đề cử. Trong cuộc bầu cử quân chủ năm 1873, một cuộc bỏ phiếu phổ thông mang tính nghi lễ và một cuộc bỏ phiếu nhất trí của cơ quan lập pháp, William C. Lunalilo, cháu trai của Kamehameha I, đã trở thành vị vua đầu tiên trong số hai vị vua được bầu của Hawaii. Triều đại của ông kết thúc do ông qua đời sớm vì bệnh lao ở tuổi 39.
Sau cái chết của Lunalilo, David Kalakaua đã đánh bại góa phụ của Kamehameha IV là Vương hậu Emma, trong một cuộc bầu cử gây tranh cãi, bắt đầu triều đại thứ hai.[22]
Triều đại Kalākaua
[sửa | sửa mã nguồn]
Giống như người tiền nhiệm, Lunalilo đã không thể chỉ định người thừa kế ngai vàng. Một lần nữa, cơ quan lập pháp của Vương quốc Hawaii đã tổ chức bầu cử để lấp đầy vị trí còn trống. Vương hậu Emma, góa phụ của Kamehameha IV, được đề cử cùng với David Kalākaua. Cuộc bầu cử năm 1874 là một chiến dịch tranh cử gay gắt, trong đó cả hai ứng cử viên đều sử dụng những lời lẽ công kích và ám chỉ ác ý. Kalākaua trở thành vị vua thứ hai được bầu của Hawaii nhưng không có được sự ủng hộ của dân chúng như trong nghi lễ như Lunalilo. Sự lựa chọn này gây tranh cãi, và quân đội Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đã được điều động đến để trấn áp các cuộc bạo loạn của những người ủng hộ Vương hậu Emma.
Kalākaua chính thức tuyên bố rằng em gái ông là Liliʻuokalani, sẽ kế vị ngai vàng sau khi ông qua đời. Với hy vọng tránh được sự không chắc chắn như người tiền nhiệm, Kalākaua đã liệt kê một thứ tự kế vị trong di chúc của mình, theo đó sau Liliʻuokalani, ngai vàng sẽ được kế vị bởi Nữ thân vương Victoria Kaʻiulani, sau đó là Vương hậu Kapiʻolani, tiếp theo là em gái của bà, Nữ thân vương Poʻomaikelani, rồi đến Thân vương David Kawānanakoa, và cuối cùng là Thân vương Jonah Kūhiō Kalanianaʻole.[23] Tuy nhiên, di chúc này không phải là một tuyên bố chính thức theo luật của vương quốc. Các cuộc biểu tình phản đối việc đề cử các aliʻi cấp thấp hơn, những người không đủ điều kiện lên ngôi, trong khi có những aliʻi cấp cao hơn đủ điều kiện,[[24] chẳng hạn như Đại tộc trưởng Elizabeth Kekaʻaniau.[25] Tuy nhiên, Vương hậu Liliʻuokalani nắm giữ đặc quyền hoàng gia và bà đã chính thức tuyên bố cháu gái của mình, Nữ thân vương Kaʻiulani, là người thừa kế.[26] Sau đó, bà đề xuất một hiến pháp mới vào năm 1893, nhưng nó chưa bao giờ được cơ quan lập pháp phê chuẩn.[27]
Thủ tướng của Kalākaua là Walter M. Gibson, đã chi tiêu cho Kalākaua và cố gắng thành lập Liên minh Polynesia, gửi "chiến hạm tự chế" Kaimiloa đến Samoa vào năm 1887. Điều này đã gây ra sự nghi ngờ từ Hải quân Đế quốc Đức.[28]
Hiến pháp Lưỡi lê
[sửa | sửa mã nguồn]
Hiến pháp năm 1887 của Vương quốc Hawaii được soạn thảo bởi Lorrin A. Thurston, Bộ trưởng Nội vụ dưới thời Vua Kalākaua. Hiến pháp được nhà vua ban hành sau một cuộc biểu tình của 3.000 cư dân, bao gồm cả một lực lượng dân quân vũ trang, yêu cầu ông ký hoặc bị phế truất. Văn kiện này đã tạo ra một chế độ quân chủ lập hiến giống như của Vương quốc Anh, tước bỏ hầu hết quyền lực cá nhân của nhà vua, trao quyền cho cơ quan lập pháp và thiết lập một chính phủ nội các. Nó được biết đến với tên gọi "Hiến pháp lưỡi lê" vì mối đe dọa vũ lực được sử dụng để buộc Kalākaua hợp tác.
Hiến pháp năm 1887 trao quyền cho công dân bầu ra các thành viên của Viện Quý tộc (những người trước đây được nhà vua bổ nhiệm). Nó tăng giá trị tài sản mà một công dân phải sở hữu để đủ điều kiện bỏ phiếu cao hơn so với Hiến pháp năm 1864 trước đó. Nó cũng tước bỏ quyền bầu cử của người châu Á, những người chiếm một tỷ lệ lớn trong dân số (một số người Nhật Bản và một số người Hoa trước đây đã nhập tịch bị mất quyền bầu cử). Điều này giới hạn quyền bầu cử chỉ dành cho những người Hawaii bản địa giàu có và người châu Âu. Hiến pháp lưỡi lê vẫn cho phép nhà vua bổ nhiệm các bộ trưởng nội các, nhưng tước bỏ quyền bãi nhiệm họ, quyền này thuộc về Quốc hội.
Hiến pháp của Liliʻuokalani
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1891, Vua Kalākaua qua đời và em gái ông là Liliʻuokalani, lên ngôi. Bà lên nắm quyền trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, một phần do thuế quan McKinley gây ra. Bằng cách hủy bỏ Hiệp ước Tương hỗ năm 1875, thuế quan mới đã xóa bỏ lợi thế trước đây mà các nhà xuất khẩu Hawaii được hưởng trong thương mại với thị trường Hoa Kỳ. Nhiều doanh nghiệp và người dân Hawaii cảm thấy thiếu hụt doanh thu, vì vậy Liliʻuokalani đề xuất xổ số và cấp phép trồng thuốc phiện để tăng thêm thu nhập. Các bộ trưởng và bạn bè thân thiết nhất của bà đã cố gắng thuyết phục bà không theo đuổi các dự luật này, và những đề xuất gây tranh cãi này đã được sử dụng chống lại bà trong cuộc khủng hoảng hiến pháp sắp xảy ra.
Liliʻuokalani muốn khôi phục quyền lực cho chế độ quân chủ bằng cách bãi bỏ Hiến pháp năm 1887. Bà đã phát động một chiến dịch dẫn đến một bản kiến nghị tuyên bố một Hiến pháp mới. Nhiều công dân và cư dân, những người vào năm 1887 đã buộc Kalākaua phải ký "Hiến pháp lưỡi lê", đã trở nên lo ngại khi ba thành viên nội các của bà thông báo với họ rằng nữ vương đang lên kế hoạch đơn phương tuyên bố Hiến pháp mới của mình.[29] Một số thành viên được cho là đã lo sợ cho sự an toàn của họ vì không ủng hộ kế hoạch của bà.[30]
Lật đổ
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1893, các doanh nhân và chính trị gia địa phương, bao gồm 7 người không phải là thần dân bản địa của Vương quốc Hawaii, năm công dân Mỹ, một công dân Anh và một công dân Đức,[32] tất cả đều đang sống ở Hawaii, đã thành lập Ủy ban An toàn (Hawaii) và lật đổ chế độ, nắm quyền điều hành chính phủ.
Các nhà sử học cho rằng các doanh nhân ủng hộ việc lật đổ và sáp nhập vào Hoa Kỳ để được hưởng lợi từ các điều kiện thương mại thuận lợi hơn.[33][34][35][36]
Bộ trưởng Hoa Kỳ của Vương quốc Hawaii là John L. Stevens đã triệu tập một đại đội lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ mặc quân phục từ tàu USS Boston và hai đại đội thủy thủ Hoa Kỳ đến Honolulu để chiếm giữ các vị trí tại Đại sứ quán, Lãnh sự quán và Hội trường Arion vào chiều ngày 16 tháng 1 năm 1893. Việc triển khai này được thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban An toàn, ủy ban này tuyên bố có "mối đe dọa sắp xảy ra đối với tính mạng và tài sản của người Mỹ". Stevens bị cáo buộc đã ra lệnh đổ bộ theo thẩm quyền riêng của mình và sử dụng quyền hạn một cách không phù hợp. Nhà sử học William Russ kết luận rằng "lệnh cấm mọi hình thức chiến đấu đã khiến chế độ quân chủ không thể tự bảo vệ mình".[37]:350
Vào ngày 17 tháng 7 năm 1893, Sanford B. Dole và ủy ban của ông đã nắm quyền kiểm soát chính phủ và tuyên bố mình là Chính phủ Lâm thời Hawaii "để cai trị cho đến khi bị Hoa Kỳ sáp nhập".[37]:90 Dole giữ chức tổng thống. Ủy ban và các thành viên của chính phủ cũ đều vận động hành lang tại Washington, D.C. cho các vị trí tương ứng của họ.
Tổng thống Grover Cleveland coi cuộc lật đổ là một hành động chiến tranh bất hợp pháp; ông từ chối xem xét việc sáp nhập và ban đầu đã nỗ lực khôi phục ngai vàng cho nữ vương Liliʻuokalani. Từ ngày 14 tháng 12 năm 1893 đến ngày 11 tháng 1 năm 1894, một cuộc đối đầu được gọi là Tuần lễ Đen (Hawaii) đã xảy ra giữa Hoa Kỳ, Đế quốc Nhật Bản và Vương quốc Anh chống lại Chính phủ Lâm thời để gây áp lực buộc họ trả lại ngai vàng cho Liliʻuokalani. Sự việc này càng khẳng định thông điệp rằng Tổng thống Cleveland muốn Nữ vương Liliʻuokalani trở lại nắm quyền. Vào ngày 4 tháng 7 năm 1894, Cộng hòa Hawaii được yêu cầu chờ đến khi kết thúc nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Cleveland.
Trong khi hoạt động vận động hành lang tiếp tục diễn ra suốt năm 1894, những người ủng hộ chế độ quân chủ đã nỗ lực không ngừng để khôi phục ngai vàng cho Liliʻuokalani, được gọi là phong trào bảo hoàng Hawaii. Việc lật đổ này vấp phải sự phản đối của nhiều người Hawaii bản địa, những người vẫn trung thành với ngai vàng. Từ năm 1893 đến năm 1894, những người bảo hoàng đã tổ chức kháng chiến chính trị. Các nhóm như Hui Aloha ʻĀina đã thu thập được nhiều bản kiến nghị phản đối việc sáp nhập và ủng hộ chế độ quân chủ. Mặc dù vậy, chính phủ lâm thời đã được tổ chức lại thành Cộng hòa Hawaii vào năm 1894, củng cố thêm quyền lực và loại trừ ảnh hưởng của phe bảo hoàng. Dole vẫn giữ chức vụ tổng thống.
Căng thẳng lên đến đỉnh điểm vào tháng 1 năm 1895 với cuộc nổi dậy vũ trang của phe bảo hoàng do Robert William Wilcox lãnh đạo. Phe bảo hoàng tập hợp một đội quân 600 người do cựu Đại úy Cận vệ Samuel Nowlein chỉ huy, và cố gắng lật đổ nền cộng hòa và khôi phục ngôi vị cho Nữ vương Liliʻuokalani. Giao tranh diễn ra xung quanh Honolulu, nhưng cuộc nổi dậy nhanh chóng bị lực lượng chính phủ dập tắt. Sau cuộc nổi dậy, vũ khí liên quan đến cuộc nổi loạn được tìm thấy trong khuôn viên cung điện, và Nữ vương bị bắt giữ. Bà bị xét xử bởi tòa án quân sự của Cộng hòa Hawaii, bị kết tội âm mưu phản quốc, và bị quản thúc tại gia vĩnh viễn.
Vào ngày 24 tháng 1 năm 1895, trong khi bị quản thúc tại gia, Liliʻuokalani bị buộc phải ký một bản tuyên bố dài năm trang với tên "Liliuokalani Dominis", không phải do bà viết, trong đó tuyên bố bà chính thức thoái vị. Điều này nhằm đổi lấy việc trả tự do và giảm án tử hình cho những người ủng hộ bà đang bị giam giữ, bao gồm Bộ trưởng Joseph Nāwahī, Hoàng thân Kawānanakoa, Robert William Wilcox và Hoàng thân Jonah Kūhiō.
Trước khi lên ngôi, trong suốt 14 năm, hay kể từ ngày tôi được tuyên bố là người thừa kế ngai vàng, tước hiệu chính thức của tôi chỉ đơn giản là Liliuokalani. Vì vậy, tôi được tuyên bố là cả Vương nữ Hoàng gia và Nữ vương. Điều này vẫn được ghi chép trong kho lưu trữ của chính phủ cho đến ngày nay. Chính phủ lâm thời hay bất kỳ chính phủ nào khác đều không thay đổi tên của tôi. Tất cả các văn bản chính thức cũng như thư từ riêng của tôi đều được ký tên là Liliuokalani. Nhưng khi những người giam giữ yêu cầu tôi ký tên ("Liliuokalani Dominis"), tôi đã làm theo lệnh của họ. Động cơ của họ trong việc này, cũng như trong những hành động khác, rõ ràng là để làm nhục tôi trước nhân dân và trước toàn thế giới. Tôi nhận ra ngay lập tức, điều mà họ không nhận ra, rằng ngay cả khi tôi không tuân theo dưới sự ép buộc khắc nghiệt nhất, thì yêu cầu này của họ đã vượt quá giới hạn. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, không hề có và chưa từng có một người nào tên là Liliuokalani Dominis.
Theo luật thông thường, các hành vi của bất kỳ người nào bị tước đoạt quyền dân sự đều không có hiệu lực hay trọng lượng, cả về mặt pháp luật lẫn công bằng; và đó là tình huống của tôi. ... nhưng hành vi này, được thực hiện dưới sự cưỡng ép, không nên có trọng lượng đối với các nhà chức trách của Hoa Kỳ, nơi tôi đã kháng cáo.
— Nữ vương Liliuokalani, "Câu chuyện của Hawaii do Nữ vương Hawaii kể lại"[38]
Nhiều người theo phe bảo hoàng, bao gồm cả Wilcox, đã bị bỏ tù, mặc dù một số người sau đó đã được ân xá. Sự thất bại của cuộc nổi dậy năm 1895 đã chấm dứt sự kháng cự của phe bảo hoàng. Cộng hòa Hawaii vẫn nắm quyền kiểm soát cho đến năm 1898, khi Cộng hòa Hawaii bị giải thể và Quần đảo Hawaii bị Hoa Kỳ sáp nhập theo Nghị quyết chung về việc sáp nhập Quần đảo Hawaii vào Hoa Kỳ, được gọi là "Nghị quyết Newlands".[39]
Kinh tế, xã hội và văn hoá
[sửa | sửa mã nguồn]Các yếu tố kinh tế và nhân khẩu học trong thế kỷ XIX đã định hình lại các hòn đảo. Sự hợp nhất của chúng đã mở ra thương mại quốc tế. Dưới thời Kamehameha (1795–1819), gỗ đàn hương được xuất khẩu sang Nhà Thanh, Trung Quốc. Điều đó dẫn đến việc du nhập tiền tệ và thương mại khắp các đảo.
Sau khi Kamehameha qua đời, việc kế vị được giám sát bởi người vợ cả của ông là Kaʻahumanu, người được chỉ định làm nhiếp chính cho vị vua mới là Liholiho, người còn nhỏ tuổi.
Vương hậu Kaʻahumanu đã bãi bỏ nhiều điều cấm kỵ (kapu) chi phối hành vi của phụ nữ. Bà cho phép nam giới và phụ nữ ăn cùng nhau và phụ nữ được ăn chuối. Bà cũng lật đổ vị trí độc tôn của tôn giáo cũ để ủng hộ Cơ đốc giáo. Các nhà truyền giáo đã phát triển ngôn ngữ viết của tiếng Hawaii. Điều đó dẫn đến tỷ lệ biết chữ cao ở Hawaii, trên 90% vào nửa cuối thế kỷ XIX. Chữ viết đã hỗ trợ củng cố chính quyền. Các hiến pháp bằng văn bản đã được xây dựng.
Năm 1848, Đại Māhele được Vua Kamehameha III ban hành.[40] Nó thiết lập các quyền sở hữu chính thức, chính thức hóa hệ thống sở hữu đất đai theo phong tục có hiệu lực trước tuyên bố này. Có đến 98% đất đai được giao cho aliʻi, các tù trưởng hoặc quý tộc, với 2% cho thường dân. Không được phép bán đất, chỉ được chuyển nhượng cho con cháu trực hệ.
Việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài đã khiến người bản địa phải đối mặt với một loạt các bệnh dịch du nhập khủng khiếp như bệnh đậu mùa. Dân số người Hawaii bản địa giảm từ khoảng 128.000 người vào năm 1778[41] xuống còn 71.000 người vào năm 1853, đạt mức thấp nhất là 24.000 người vào năm 1920. Hầu hết sống ở các làng hẻo lánh.[42]
Các nhà truyền giáo người Mỹ đã cải đạo hầu hết người bản địa sang Cơ đốc giáo. Các nhà truyền giáo và con cái của họ trở thành một tầng lớp tinh hoa quyền lực vào giữa thế kỷ XIX. Họ cung cấp các cố vấn chính và thành viên nội các cho các vị vua và thống trị tầng lớp chuyên nghiệp và thương gia trong các thành phố.[43]
Giới tinh hoa đã thúc đẩy ngành công nghiệp mía đường. Người Mỹ đã thiết lập các đồn điền sau năm 1850.[44] Rất ít người bản địa sẵn lòng làm việc ở đó, vì vậy những người tuyển dụng đã tỏa ra khắp châu Á và châu Âu. Kết quả là, từ năm 1850 đến năm 1900, khoảng 200.000 lao động hợp đồng từ Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Bồ Đào Nha và các nơi khác đã làm việc tại Hawaiʻi theo hợp đồng có thời hạn cố định (thường là 5 năm). Hầu hết trở về nhà đúng hạn, nhưng nhiều người đã định cư lại Hawaii. Đến năm 1908, khoảng 180.000 công nhân Nhật Bản đã đến. Không lao động nước ngoài nào được phép vào thêm nữa, nhưng 54.000 người đã ở lại vĩnh viễn.[45]
Chính trị
[sửa | sửa mã nguồn]Khi Hawaii hoạt động dưới chế độ quân chủ chuyên chế, chủ nghĩa liên bang được sử dụng trong quản trị khu vực. Người nước ngoài trên vùng đất Hawaii được coi là không thể bị truy tố, vì vậy một nhà nước thống nhất cùng với chế độ quân chủ lập hiến đã thay thế hệ thống trước đó vào năm 1827.[46]
Quân đội
[sửa | sửa mã nguồn]Lục quân và hải quân Hawaii phát triển từ các chiến binh Kona dưới thời Kamehameha I. Quân đội sử dụng cả thuyền độc mộc và đồng phục truyền thống, bao gồm mũ sắt làm từ vật liệu tự nhiên và khố (gọi là malo), cũng như công nghệ phương Tây như pháo binh, súng hỏa mai và tàu chiến, cùng với tổ chức theo kiểu phương Tây như quân phục và hệ thống cấp bậc quân sự. Các cố vấn châu Âu được đối xử tốt và trở thành công dân Hawaii. Khi Kamehameha qua đời năm 1819, ông để lại cho con trai Liholiho một kho vũ khí lớn với hàng chục nghìn binh lính và nhiều tàu chiến. Điều này đã giúp dập tắt cuộc nổi dậy ở Kuamoʻo vào cuối năm 1819 và cuộc nổi loạn của Humehume trên đảo Kauaʻi năm 1824.
Quân đội suy giảm cùng với dân số do sự tàn phá của dịch bệnh, vì vậy đến cuối triều đại Kamehameha, hải quân Hawaii bị thu hẹp nghiêm trọng, chỉ còn một vài tàu chiến lỗi thời và quân đội chỉ còn vài trăm binh sĩ. Sau cuộc xâm lược của Pháp và cướp phá Honolulu năm 1849, Kamehameha III đã tìm kiếm các hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ và Anh. Trong Chiến tranh Krym, Kamehameha III tuyên bố Hawaiʻi là một quốc gia trung lập.[47] Chính phủ Hoa Kỳ gây áp lực mạnh mẽ lên Kamehameha IV để giao dịch độc quyền với Hoa Kỳ, đe dọa sáp nhập các đảo. Để chống lại mối đe dọa này, Kamehameha IV và Kamehameha V đã thúc đẩy các liên minh với các cường quốc nước ngoài khác, đặc biệt là Đế chế Anh. Hawaiʻi tuyên bố chủ quyền đối với các đảo không người ở ở Thái Bình Dương, bao gồm Quần đảo Tây Bắc Hawaii, nhiều đảo trong số đó xung đột với các tuyên bố chủ quyền của Mỹ.
Đội cận vệ hoàng gia đã bị giải tán dưới thời Lunalilo sau một cuộc nổi dậy trong doanh trại vào tháng 9 năm 1873. Một đội quân nhỏ đã được khôi phục dưới thời Vua Kalākaua nhưng đã thất bại trong việc ngăn chặn Cuộc nổi dậy năm 1887 của Đảng Cải cách. Hoa Kỳ duy trì chính sách giữ ít nhất một tàu tuần dương ở Hawaiʻi. Ngày 17 tháng 1 năm 1893, Liliʻuokalani, tin rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ can thiệp nếu bà thay đổi hiến pháp, đã chờ tàu USS Boston rời cảng. Khi biết tin Liliʻuokalani đang sửa đổi hiến pháp, tàu Boston quay trở lại và hỗ trợ Đảng Cải cách lật đổ bà. Sau khi Chính phủ Lâm thời Hawaii được thành lập, quân đội của Vương quốc đã bị giải tán.
Sự kiện Pháp (1839)
[sửa | sửa mã nguồn]Dưới thời trị vì của Nữ vương Kaʻahumanu, Công giáo bị coi là bất hợp pháp ở Hawaiʻi, và vào năm 1831, các linh mục Công giáo người Pháp đã bị trục xuất. Những người Hawaii bản địa cải đạo sang Công giáo tuyên bố đã bị bỏ tù, đánh đập và tra tấn sau khi các linh mục bị trục xuất.[48] Sự phản kháng đối với các nhà truyền giáo Công giáo Pháp tiếp tục dưới thời Kuhina Nui Kaʻahumanu II.
Năm 1839, Thuyền trưởng Laplace của tàu khu trục Artémise của Pháp đã đến Hawaiʻi theo lệnh:
- Phá hủy ấn tượng xấu xa mà bạn thấy đã được thiết lập gây bất lợi cho tên tuổi của người Pháp; để sửa chữa quan điểm sai lầm đã được tạo ra về sức mạnh của Pháp; và để làm cho mọi người hiểu rõ rằng sẽ có lợi cho các thủ lĩnh của những hòn đảo thuộc Đại dương đó nếu họ hành xử theo cách không gây ra sự giận dữ của Pháp. Nếu cần thiết, ngài sẽ dùng toàn bộ sức mạnh mà ngài có để đòi lại sự đền bù đầy đủ cho những sai trái đã gây ra, và ngài sẽ không rời khỏi những nơi đó cho đến khi ngài để lại trong tâm trí mọi người một ấn tượng vững chắc và lâu dài.
Dưới sự đe dọa chiến tranh, Vua Kamehameha III đã ký Sắc lệnh Khoan dung vào ngày 17 tháng 7 năm 1839, đồng ý với các yêu cầu của Laplace. Ông đã trả 20.000 đô la tiền bồi thường cho việc trục xuất các linh mục, việc giam cầm và tra tấn những người cải đạo. Vương quốc tuyên bố:
- Rằng việc thờ phượng Công giáo được tuyên bố tự do, trên khắp các lãnh thổ thuộc quyền cai trị của Vua Quần đảo Sandwich (tên đầu tiên của Quần đảo Hawaii); các tín đồ của tôn giáo này sẽ được hưởng các đặc quyền được ban cho người Tin Lành.
Giáo phận Công giáo La Mã Honolulu đã trở lại và để đền bù, Kamehameha III đã hiến tặng đất để xây nhà thờ.
Các cuộc xâm lược
[sửa | sửa mã nguồn]Vụ việc Paulet (1843)
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào ngày 13 tháng 2 năm 1843, Lãnh chúa George Paulet, chỉ huy tàu chiến HMS Carysfort thuộc Hải quân Hoàng gia đã tiến vào Cảng Honolulu và yêu cầu Vua Kamehameha III nhượng lại các hòn đảo cho Vương quyền Anh.[49] Dưới họng súng của tàu chiến, Kamehameha III đã đầu hàng Paulet vào ngày 25 tháng 2, viết:
"Các vị thủ lĩnh, thần dân và thường dân từ tổ tiên của tôi, và thần dân từ các vùng đất xa lạ, các vị ở đâu?
Hãy nghe đây! Tôi cho các vị biết rằng tôi đang bối rối vì những khó khăn mà tôi bị kéo vào một cách vô cớ, vì vậy tôi đã từ bỏ sự sống của đất nước chúng ta. Hãy nghe đây! nhưng sự cai trị của tôi đối với các vị, thần dân của tôi, và các đặc quyền của các vị sẽ tiếp tục, vì tôi hy vọng rằng sự sống của đất nước sẽ được khôi phục khi hành vi của tôi được chứng minh là chính đáng.
Được thực hiện tại Honolulu, Oahu, ngày 25 tháng 2 năm 1843.
Kamehameha III
Kekauluohi"[50]
Gerrit P. Judd, một nhà truyền giáo đã trở thành bộ trưởng tài chính của Vương quốc, đã bí mật sắp xếp để J.F.B. Marshall được cử đến Hoa Kỳ, Pháp và Anh để phản đối hành động của Paulet.[51] Marshall, một đại lý thương mại của Ladd & Co., đã chuyển lời khiếu nại của Vương quốc đến phó lãnh sự Anh tại Tepec. Chuẩn đô đốc Richard Darton Thomas, sĩ quan chỉ huy của Paulet, đã đến cảng Honolulu vào ngày 26 tháng 7 năm 1843 trên tàu HMS Dublin từ Valparaíso, Chile. Đô đốc Thomas đã xin lỗi Kamehameha III về hành động của Paulet và khôi phục chủ quyền của Hawaii vào ngày 31 tháng 7 năm 1843. Trong bài phát biểu khôi phục chủ quyền, Kamehameha III tuyên bố rằng "Ua Mau ke Ea o ka ʻĀina i ka Pono" (Sự sống của đất nước được duy trì trong sự công chính), nó đã trở thành khẩu hiệu của Nhà nước Hawaii trong tương lai. Ngày này được kỷ niệm là Lā Hoʻihoʻi Ea (Ngày Khôi phục Chủ quyền).
Cuộc xâm lược của Pháp (1849)
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 8 năm 1849, đô đốc Pháp Louis Tromelin đến cảng Honolulu trên hai tàu La Poursuivante và Gassendi. Ngày 22 tháng 8, De Tromelin đưa ra mười yêu cầu với Vua Kamehameha III, chủ yếu là việc trao đầy đủ quyền tự do tôn giáo cho người Công giáo (trước đó người Công giáo chỉ được hưởng một phần quyền tự do tôn giáo). Đến ngày 25 tháng 8, các yêu cầu vẫn chưa được đáp ứng. Sau lời cảnh báo thứ hai, quân đội Pháp đã áp đảo lực lượng còn lại và chiếm được pháo đài Honolulu, vô hiệu hóa các khẩu pháo ven biển và phá hủy tất cả các vũ khí khác mà họ tìm thấy (chủ yếu là súng hỏa mai và đạn dược). Họ cướp phá các tòa nhà chính phủ và tài sản chung ở Honolulu, gây thiệt hại 100.000 đô la. Sau các cuộc đột kích, lực lượng xâm lược rút lui về pháo đài. Cuối cùng, De Tromelin triệu hồi quân của mình và rời khỏi Hawaiʻi vào ngày 5 tháng 9.
Quan hệ đối ngoại
[sửa | sửa mã nguồn]Để tránh sự xâm phạm lãnh thổ Hawaii từ nước ngoài, Vua Kamehameha III đã phái một phái đoàn đến Hoa Kỳ và châu Âu để tìm kiếm sự công nhận nền độc lập của Hawaii. Timoteo Haʻalilio, William Richards và George Simpson được bổ nhiệm làm đồng bộ trưởng toàn quyền vào ngày 8 tháng 4 năm 1842. Simpson đến Anh trong khi Haʻalilio và Richards đến Hoa Kỳ. Phái đoàn Hawaii đã nhận được sự đảm bảo về nền độc lập của Hawaii từ Tổng thống Hoa Kỳ John Tyler vào ngày 19 tháng 12 năm 1842. Sau đó, họ gặp Simpson ở châu Âu để tìm kiếm sự công nhận chính thức từ Vương quốc Anh và Pháp. Vào ngày 17 tháng 3 năm 1843, Vua Louis-Philippe I của Pháp đã công nhận nền độc lập của Hawaii theo lời kêu gọi của Vua Leopold I của Bỉ. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1843, Lãnh chúa Aberdeen, thay mặt Nữ hoàng Victoria, đã đảm bảo với phái đoàn Hawaii rằng, "Chính phủ của Bệ hạ sẵn sàng và đã quyết định công nhận nền độc lập của Quần đảo Sandwich dưới sự cai trị của quốc vương hiện tại".
Tuyên bố Anh-Pháp
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 28 tháng 11 năm 1843, tại Triều đình Luân Đôn, chính phủ Anh và Pháp chính thức công nhận nền độc lập của Hawaii. "Tuyên bố Anh-Pháp", một tuyên bố chung của Pháp và Anh, được ký bởi Vua Louis-Philippe và Nữ hoàng Victoria, đã đảm bảo với phái đoàn Hawaii:
Nữ hoàng Anh và Quốc vương Pháp, xét đến sự tồn tại của một chính phủ có khả năng đảm bảo tính thường trực trong quan hệ với các quốc gia nước ngoài tại Quần đảo Sandwich (Quần đảo Hawaii), đã cho rằng việc cam kết, trên cơ sở tương hỗ, coi Quần đảo Sandwich là một quốc gia độc lập và không bao giờ chiếm hữu, dù trực tiếp hay dưới danh nghĩa Bảo hộ, hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác, bất kỳ phần nào của lãnh thổ mà chúng cấu thành là điều đúng đắn.
Những người ký tên dưới đây, Bộ trưởng Ngoại giao của Nữ hoàng và Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của Quốc vương Pháp tại Triều đình Luân Đôn, được trao quyền cần thiết, tuyên bố rằng, do đó, Quốc vương và Nữ hoàng cùng cam kết với nhau.
Để làm bằng chứng, những người ký tên dưới đây đã ký vào bản tuyên bố này và đóng dấu huy hiệu của mình lên đó.
Được lập thành hai bản tại Luân Đôn, ngày 28 tháng 11 năm 1843. ABERDEEN. [L.S.]
ST. AULAIRE. [L.S.][52]
Hawaii là quốc gia bản địa phi châu Âu đầu tiên được các cường quốc công nhận nền độc lập.[53] Hoa Kỳ đã từ chối tham gia cùng Pháp và Vương quốc Anh trong tuyên bố này, mặc dù Tổng thống John Tyler đã công nhận bằng lời nói công nhận nền độc lập của Hawaii. Năm 1849, Hoa Kỳ chính thức công nhận nền độc lập của Hawaii.[52]
Ngày 28 tháng 11, Lā Kūʻokoʻa (Ngày Độc lập), trở thành ngày lễ quốc gia của Hawaii để kỷ niệm sự công nhận này. Vương quốc Hawaii đã ký kết các hiệp ước với hầu hết các quốc gia lớn và thành lập hơn 90 phái đoàn và lãnh sự quán.[52]
Các Hoàng thân và thủ lĩnh đủ điều kiện để trở thành người cai trị
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1839, Vua Kamehameha III thành lập Trường dành cho Con cái của Thủ lĩnh (Trường Hoàng gia) và chọn ra 16 vị thủ lĩnh có địa vị cao nhất đủ điều kiện cai trị, đồng thời cung cấp cho họ nền giáo dục cao nhất và nghi thức ứng xử đúng mực. Họ bắt buộc phải theo học nội trú dưới sự hướng dẫn của Amos Starr Cooke và vợ ông. Các hoàng thân và thủ lĩnh đủ điều kiện bao gồm: Moses Kekūāiwa, Alexander Liholiho, Lot Kamehameha, Victoria Kamāmalu, Emma Rooke, William Lunalilo, David Kalākaua, Lydia Kamakaʻeha, Bernice Pauahi, Elizabeth Kekaʻaniau, Jane Loeau, Abigail Maheha, Peter Young Kaeo, James Kaliokalani, John Pitt Kīnaʻu và Mary Paʻaʻāina, được vua Kamehameha III chính thức tuyên bố vào năm 1844..[54]
Phạm vi lãnh thổ
[sửa | sửa mã nguồn]Vương quốc được thành lập vào năm 1795, sau Trận Nuʻuanu, thống nhất tất cả các đảo chính của Hawaii ngoại trừ Kauaʻi và Niʻihau dưới thời Kamehameha I. Hai đảo còn lại gia nhập vương quốc vào năm 1810 khi vua Kaumualiʻi tuyên thệ trung thành với Kamehameha.[18]
Năm 1822, Kaumualiʻi và vợ là Vương hậu Kaʻahumanu cùng với Thuyền trưởng William Sumner đi tìm Nīhoa, vì thế hệ của họ chỉ biết đến nó qua các bài hát và thần thoại. Mặc dù Nīhoa và đảo Necker là một phần không thể thiếu của vương quốc ngay từ đầu, thường xuyên được các thầy tu đến thăm vì mục đích tôn giáo, nhưng những chuyến thăm đó đã kết thúc với việc bãi bỏ hệ thống kapu vào năm 1819. Vua Kamehameha IV sau đó đã ủy nhiệm Thuyền trưởng John Paty chính thức sáp nhập hòn đảo này vào năm 1857, cùng với đảo Laysan và đảo Lisianski.[55]
Vua Kamehameha IV đã mở rộng các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của vương quốc ra ngoài quần đảo Hawaii bằng cách giao nhiệm vụ cho Thuyền trưởng Samuel Allen sáp nhập đảo san hô Johnston vào năm 1858, và giao nhiệm vụ cho Thuyền trưởng Zenas Bent sáp nhập đảo san hô Palmyra vào năm 1862. Năm 1886, Vua Kalākaua tìm cách củng cố quyền kiểm soát các đảo Tây Bắc Hawaii bằng cách sáp nhập đảo san hô Kure, và tiến hành đàm phán với Hoa Kỳ để chuyển giao Rạn san hô vòng Midway, mà Hoa Kỳ trước đây đã tuyên bố chủ quyền, cho Vương quốc Hawaii.[55]
Bắt đầu từ những năm 1850, Hawaii tìm kiếm vai trò lãnh đạo trong số các dân tộc Polynesia chưa bị các đế chế châu Âu sáp nhập. Charles Saint Julian, ủy viên của vương quốc tại các đảo Thái Bình Dương độc lập, lập luận rằng "với tư cách là quốc gia Polynesia đầu tiên và vĩ đại nhất, Vương quốc Hawaii, trong mối quan hệ với các đảo Thái Bình Dương, được xếp vào loại 'cường quốc'." Quần đảo Stewart (Đảo san hô Sikaiana) gần Quần đảo Solomon, được cư dân của nó nhượng lại cho Hawaiʻi vào năm 1856, nhưng việc nhượng lại này chưa bao giờ được chính thức hóa.[56]:305–307
Vào những năm 1880, Vua Kalākaua, chịu ảnh hưởng của Celso Caesar Moreno, đã tiếp nối mối quan tâm của Saint Julian về một Liên minh Polynesia với Hawaiʻi đứng đầu.[57] Năm 1886, Bộ trưởng Ngoại giao của Kalākaua là Murray Gibson, đã cử một phái đoàn đến Samoa để gặp Vua Malietoa Laupepa nhằm giúp đàm phán một giải pháp hòa bình cho Nội chiến Samoa lần thứ nhất giữa Malietoa và triều đại Tupua Tamasese. Phái đoàn đã gặp Malietoa vào năm 1887 và ký một hiệp ước thành lập một liên minh Polynesia, bao gồm Hawaii và Samoa, mà họ hy vọng cuối cùng cũng sẽ bao gồm Tonga và tất cả các đảo Polynesia. Phái đoàn này đã bị Hoa Kỳ, Anh và Đức chỉ trích mạnh mẽ, những nước cũng đang cố gắng đàm phán một giải pháp cho cuộc khủng hoảng chính trị Samoa – đặc biệt là Đức, quốc gia ủng hộ Tamasese. Kalākaua đã triệu hồi phái đoàn sau khi Đức đe dọa rằng việc tiếp tục đứng về phía Malietoa sẽ khiến Hawaiʻi rơi vào "tình trạng chiến tranh" với Đức. Hiệp ước liên bang không được phê chuẩn và Malietoa đã bị người Đức buộc phải lưu vong vào cuối năm đó.[[56]:322–339
Mặc dù Vương quốc Hawaii chưa bao giờ chính thức tuyên bố chủ quyền đối với các đảo Baker, đảo Howland và đảo Jarvis xa hơn, tất cả đều được Hoa Kỳ tuyên bố chủ quyền vào năm 1856, nhưng không có công dân Hoa Kỳ nào có mặt trên những hòn đảo đó trong khi người Hawaii thường xuyên khai thác các mỏ phân chim của họ, vì vậy Vương quốc Hawaii có một tuyên bố chủ quyền trên thực tế khả thi đối với chúng.[55]
Các điền trang hoàng gia
[sửa | sửa mã nguồn]Vào thời kỳ đầu lịch sử, Vương quốc Hawaii được cai trị từ các thị trấn ven biển trên các đảo Hawaiʻi và Maui (Lāhainā). Dưới triều đại của Kamehameha III, thủ đô được đặt tại Honolulu.
Kamehameha V quyết định xây dựng một cung điện hoàng gia xứng tầm với sự thịnh vượng mới đạt được và vị thế của Vương quốc Hawaii so với các hoàng gia của các quốc gia khác. Ông đã cho xây dựng cung điện tại Aliʻiōlani Hale. Ông qua đời trước khi công trình hoàn thành. Sau đó, Tòa án Tối cao của Tiểu bang Hawaiʻi đã sử dụng tòa nhà này.
David Kalākaua chia sẻ giấc mơ của Kamehameha V về việc xây dựng một cung điện, và mong muốn có được sự xa hoa của hoàng gia châu Âu. Ông đã cho xây dựng Cung điện ʻIolani. Trong những năm sau đó, cung điện này từng là nhà tù tạm thời của em gái ông, nơi diễn ra lễ thượng cờ chính thức của Hoa Kỳ trong quá trình sáp nhập, và sau đó là văn phòng của thống đốc lãnh thổ và cơ quan lập pháp, cuối cùng trở thành một bảo tàng.
Cung điện và khu đất hoàng gia
[sửa | sửa mã nguồn]Nhiều dinh thự hoàng gia Hawaii vẫn còn tồn tại.
Các quốc vương Hawaii
[sửa | sửa mã nguồn]- Kamehameha Đại đế: 1782 - 1819
- Kamehameha II: 1819 - 1824
- Nữ hoàng Ka ʻ ahumanu: 1824 - 1827
- Kamehameha III: 1824 - 1854
- Kamehameha IV: 1855 - 1863
- Kamehameha V: 1863 - 1872
- Lunalilo: 1872 - 1874
- Kalākaua: 1874 - 1891
- Liliʻuokalani: 1891 - 1893
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Kanahele, George S. (1995). "Kamehameha's First Capital". Waikiki, 100 B.C. to 1900 A.D.: An Untold Story. University of Hawaii Press. tr. 90–102. ISBN 978-0-8248-1790-9.
- ↑ FAP-30 (Honoapiilani Highway) Realignment, Puamana to Honokowai, Lahaina District, Maui County: Environmental Impact Statement. 1991. tr. 14.
- ↑ Trudy Ring; Noelle Watson; Paul Schellinger (ngày 5 tháng 11 năm 2013). The Americas: International Dictionary of Historic Places. Routledge. tr. 315. ISBN 978-1-134-25930-4.
- ↑ Patrick Vinton Kirch; Thérèse I. Babineau (1996). Legacy of the landscape: an illustrated guide to Hawaiian archaeological sites. University of Hawaii Press. tr. 63. ISBN 978-0-8248-1816-6.
- ↑ Patricia Schultz (2007). 1,000 Places to See in the USA and Canada Before You Die. Workman Pub. tr. 932. ISBN 978-0-7611-4738-1.
- ↑ Bryan Fryklund (ngày 4 tháng 1 năm 2011). Hawaii: The Big Island. Hunter Publishing, Inc. tr. 81. ISBN 978-1-58843-637-5.
- ↑ Benjamin F. Shearer (2004). The Uniting States: Alabama to Kentucky. Greenwood Publishing Group. tr. 296. ISBN 978-0-313-33105-3.
- ↑ Roman Adrian Cybriwsky (ngày 23 tháng 5 năm 2013). Capital Cities around the World: An Encyclopedia of Geography, History, and Culture: An Encyclopedia of Geography, History, and Culture. ABC-CLIO. tr. 352. ISBN 978-1-61069-248-9.
- ↑ Engineering Magazine. Engineering Magazine Company. 1892. tr. 286.
- ↑ Kuykendall, Ralph Simpson (1965) [1938]. The Hawaiian Kingdom 1778–1854, Foundation and Transformation. Quyển 1. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 51. ISBN 0-87022-431-X.
- ↑ Schulz, Joy (2017). Hawaiian by Birth: Missionary Children, Bicultural Identity, and U.S. Colonialism in the Pacific. University of Nebraska Press. tr. 1–238. ISBN 978-0803285897.
- ↑ Van, James (2010). Ancient Sites of Oahu: A Guide to Archaeological Places of Interest. Bishop Museum Pr. Page 5. ISBN 978-1581780956.
- ↑ Kirch, Patrick (2011). "When did the Polynesians Settle Hawaii? A review of 150 years of scholarly inquiry". Hawaiian Archaeology. 12: 3–27. hdl:10524/74851.
- ↑ George Hu'eu Kanahele (ngày 1 tháng 1 năm 1993). K_ Kanaka, Stand Tall: A Search for Hawaiian Values. University of Hawaii Press. tr. 399. ISBN 978-0-8248-1500-4.
- ↑ E.S. Craighill Handy; Davis (ngày 21 tháng 12 năm 2012). Ancient Hawaiian Civilization: A Series of Lectures Delivered at THE KAMEHAMEHA SCHOOLS. Tuttle Publishing. tr. 77. ISBN 978-1-4629-0438-9.
- ↑ Frederick B. Wichman (tháng 1 năm 2003). N_ Pua Aliì O Kauaì: Ruling Chiefs of Kauaì. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-2638-3.
- ↑ Lawrence, Mary S. (1912). Old Time Hawaiians and Their Works. Gin and Company. tr. 127. ISBN 978-1-146-32462-5.
- 1 2 3 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênkuykendall1 - ↑
Quanchi, Max; Adams, Ron, biên tập (ngày 22 tháng 3 năm 1993). Culture Contact in the Pacific: Essays on Contact, Encounter and Response. Cambridge: Cambridge University Press (xuất bản 1993). ISBN 9780521422840. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020.
The emergence of 'Polynesian kingdoms' during the early years of European contact in Tahiti and Hawaii has conventionally been attributed to European influence and manipulation [...].
- ↑
Campbell, Ian C. (tháng 1 năm 1989). "Polynesia: European settlement and the later kingdoms". A History of the Pacific Islands. UQP paperbacks. Berkeley: University of California Press (xuất bản 1989). tr. 83. ISBN 9780520069015. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020.
The establishment of the Polynesian kingdoms was the culmination of pre-European stresses in island society, in conjunction with the needs and opportunities presented by contact with Europeans. Political centralization satisfied individual ambitions but also simplified the developing relationship with Europeans, both visitors and settlers.
- ↑ Alexander, William DeWitt (1895). "A Brief Sketch Of The Life Of Kamehameha V". Third Annual Report of the Hawaiian Historical Society for the Year 1895. Honolulu: Hawaiian Historical Society: 10–11.
- ↑ Kuykendall, THK, Vol. 2
- ↑ "Daily Alta California 18 March 1891 — California Digital Newspaper Collection". cdnc.ucr.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.
- ↑ Humanities, National Endowment for the (ngày 31 tháng 3 năm 1891). "The Hawaiian gazette. (Honolulu [Oahu, Hawaii]) 1865–1918, March 31, 1891, Image 2". The Hawaiian Gazette. tr. 2. ISSN 2157-1392. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Nuhou 3 February 1874 — Papakilo Database". www.papakilodatabase.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.
- ↑ Humanities, National Endowment for the (ngày 24 tháng 3 năm 1891). "The Hawaiian gazette. (Honolulu [Oahu, Hawaii]) 1865–1918, March 24, 1891, Image 5". The Hawaiian Gazette. tr. 4. ISSN 2157-1392. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Queen Lili'uokalani". U.S. National Park Service (bằng tiếng Anh).
- ↑ McBride, Spencer. "Mormon Beginnings in Samoa: Kimo Belio, Samuela Manoa and Walter Murray Gibson" (bằng tiếng Anh). Brigham Young University. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Hawaii's Story by Hawaii's Queen, Appendix A Lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2007 tại Wayback Machine "The three ministers left Mr. Parker to try to dissuade me from my purpose; and in the meantime they all (Peterson, Cornwell, and Colburn) went to the government building to inform Thurston and his part of the stand I took."
- ↑ Morgan Report, p804-805 Lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine "Every one knows how quickly Colburn and Peterson, when they could escape from the palace, called for help from Thurston and others, and how afraid Colburn was to go back to the palace."
- ↑ "U.S. Navy History site". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Annexation of Hawaii | University of Hawaii at Manoa Library". libweb.hawaii.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
- ↑ Kinzer, Stephen. (2006). Overthrow: America's Century of Regime Change from Hawaii to Iraq.
- ↑ Stevens, Sylvester K. (1968) American Expansion in Hawaii, 1842–1898. New York: Russell & Russell. (p. 228)
- ↑ Dougherty, Michael. (1992). To Steal a Kingdom: Probing Hawaiian History. (p. 167-168)
- ↑ La Croix, Sumner and Christopher Grandy. (March 1997). "The Political Instability of Reciprocal Trade and the Overthrow of the Hawaiian Kingdom" in The Journal of Economic History 57:161–189.
- 1 2 Russ, William Adam (1992) [1959]. The Hawaiian Revolution (1893–94). Susquehanna University Press. ISBN 978-0-945636-43-4.
- ↑ Liliuokalani 1898, tr. 275–276.
- ↑ Joint Resolution to Provide for Annexing the Hawaiian Islands to the United States, July 7, 1898; Enrolled Acts and Resolutions of Congress; General Records of the United States Government, 1778-1992; Record Group 11; National Archives.
- ↑ Van Dyke, Jon (2008). Who Owns the Crown Lands of Hawaiʻi?. University of Hawaiʻi Press. tr. 30–44. ISBN 978-0824832117.
- ↑ Tom Dye; Eric Komori (1992). Pre-censal Population History of Hawai'i (PDF). NA. tr. 3. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua|work=(trợ giúp) - ↑ Ronald T. Takaki (1984). Pau Hana: Plantation Life and Labor in Hawaii, 1835–1920. tr. 22.
- ↑ Harold W. Bradley, The American frontier in Hawaii: the pioneers, 1789–1843 (Stanford university press, 1942).
- ↑ Julia Flynn Siler, Lost Kingdom: Hawaii's Last Queen, the Sugar Kings and America's First Imperial Adventure (2012).
- ↑ Edward D. Beechert (1985). Working in Hawaii: A Labor History. University of Hawaii Press. tr. 146. ISBN 978-0-8248-0890-7.
- ↑ David Keanu Sai. "THE AMERICAN OCCUPATION OF THE HAWAIIAN KINGDOM: BEGINNING THE TRANSITION FROM OCCUPIED TO RESTORED STATE" (PDF). University of Hawaii.
It was during this time that the Hawaiian Kingdom began to evolve from absolute rule under a multi-tiered federal system of governance to a unitary State under a constitutional monarchy
- ↑ "Hawaiian Territory". Hawaiian Kingdom. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Kamehameha III issues the Edict of Toleration, June 17, 1839 – Tiki Central". Tiki Central. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "The US Navy and Hawaii-A Historical Summary". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2006.
- ↑ James F. B. Marshall (1883). "An unpublished chapter of Hawaiian History". Harper's magazine. Quyển 67. tr. 511–520.
- ↑ "Lā Kūʻokoʻa: Events Leading to Independence Day, November 28, 1843". The Polynesian. Quyển XXI số 3. tháng 11 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 "503–517". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2006.
- ↑ David Keanu Sai (ngày 28 tháng 11 năm 2006). "Hawaiian Independence Day". Hawaiian Kingdom Independence web site. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Humanities, National Endowment for the (ngày 20 tháng 7 năm 1844). "Polynesian. [volume] (Honolulu [Oahu], Hawaii) 1844–1864, July 20, 1844, Image 1". Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2021.
- 1 2 3 Bản mẫu:Cite book chapter
- 1 2 Kuykendall, Ralph Simpson (1967) [1938]. The Hawaiian Kingdom 1874–1893, The Kalakaua Dynasty. Quyển 3. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-87022-433-6. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Seiden, Alan (2005). The Hawaiian Monarchy. Mutual Publishing. tr. 71.
Thu mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Liliuokalani (1898). Hawaii's Story by Hawaii's Queen, Liliuokalani. Boston: Lee and Shepard. ISBN 978-0-548-22265-2. OCLC 2387226 – qua HathiTrust.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Beechert, Edward D. (1985). Working in Hawaii: a labor history. Honolulu: University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-8248-0890-7.
- Bradley, Harold Whitman (1942). The American Frontier in Hawaii: The Pioneers, 1789-1843. Stanford University Press. OCLC 4714376.
- Daws, Gavan (1968). Shoal of Time: A History of the Hawaiian Islands. Macmillan Inc. LCCN 68023630. OCLC 443050.
- Greenlee, John Wyatt (tháng 9 năm 2015). "Eight Islands on Four Maps: The Cartographic Renegotiation of Hawai'i, 1876–1959". Cartographica. 50 (3): 119–140. doi:10.3138/cart.50.3.2857. ISSN 0317-7173.
- Haley, James L. (2014). Captive paradise: a history of Hawai'i (ấn bản thứ 1.). New York, N.Y: St. Martin's Press. ISBN 978-1-4668-5550-2.
- Kuykendall, Ralph S. (1961). Hawaii: A History, From Polynesian Kingdom to American State. Englewood Cliffs, N.J.: Prentice Hall. ISBN 978-0-13-384305-7.
- Kuykendall, Ralph S. (1953) [1938]. The Hawaiian Kingdom. Quyển I. 1778-1854: Foundation and Transformation. Honolulu: University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-87022-431-7.
- Kuykendall, Ralph Simpson (1953). The Hawaiian Kingdom. Quyển II. 1854-1874: Twenty Critical Years. Honolulu: University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-87022-431-7.
- Kuykendall, Ralph S. (1967). The Hawaiian Kingdom. Quyển III. 1874-1893: The Kalakaua Dynasty. Honolulu: University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-87022-433-1.
- Siler, Julia Flynn (2012). Lost kingdom: Hawaii's last queen, the sugar kings and America's first imperial adventure (ấn bản thứ 1). New York: Atlantic Monthly Press. ISBN 978-0-8021-2001-4. OCLC 730414372.
- Silva, Noenoe K. (2017). The power of the steel-tipped pen: reconstructing native Hawaiian intellectual history. Foreword by Ngũgĩ wa Thiong'o. Durham; London: Duke University Press. ISBN 978-0-8223-7313-1.
- Sumida, Stephen H. (2014). And the view from the shore: literary traditions of Hawaiʻi. Seattle: University of Washington Press. ISBN 978-0-295-99290-7.
- Tregaskis, Richard William (1973). The Warrior King: Hawaii's Kamehameha the Great. Honolulu: Macmillan Inc. ISBN 978-0-02-619850-9.
- Wilson, Rob (tháng 9 năm 2000). "Exporting Christian Transcendentalism, Importing Hawaiian Sugar: The Trans-Americanization of Hawai'i". American Literature. 72 (3): 521–552. doi:10.1215/00029831-72-3-521. ISSN 0002-9831.
- Wyndette, Olive (1999). Islands of Destiny: A History of Hawaii. Tuttle Publishing. ISBN 978-1-4629-1268-1.
