Yumjaagiin Tsedenbal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yumjaagiin Tsedenbal
Юмжаагийн Цэдэнбал
Tsedenbal BundesArchiv.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 22 tháng 11 năm 1958 – 24 tháng 8 năm 1984
&0000000000000025.00000025 năm, &0000000000000276.000000276 ngày
Tiền nhiệm Dashiin Damba
Kế nhiệm Jambyn Batmönkh
Nhiệm kỳ 11 tháng 6 năm 1974 – 23 tháng 8 năm 1984
&0000000000000010.00000010 năm, &0000000000000073.00000073 ngày
Tiền nhiệm Sonomyn Luvsan
Kế nhiệm Nyamyn Jagvaral
Nhiệm kỳ 26 tháng 1 năm 1952 – 11 tháng 6 năm 1974
&0000000000000022.00000022 năm, &0000000000000136.000000136 ngày
Tiền nhiệm Khorloogiin Choibalsan
Kế nhiệm Jambyn Batmönkh
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ
Sinh (1916-09-17)17 tháng 9 năm 1916
Davst sum, Uvs aimag, Ngoại Mông, Trung Hoa Dân Quốc
Mất 20 tháng 4 năm 1991(1991-04-20) (74 tuổi)
Moscow, USSR
Con cái Vladislav
Zorig
Binh nghiệp
Cấp bậc Thống chế quân đội Nhân dân Mông Cổ (1979-1991)

Yumjaagiin Tsedenbal (tiếng Mông Cổ: Юмжаагийн Цэдэнбал; 17 tháng 9 năm 1916 – 20 tháng 4 1991) là người đứng đầu nhà nước Mông Cổ từ năm 1940 đến năm 1984. Ông đảm nhiệm chức danh thủ tướng và Thống chế quân đội Nhân dân Mông Cổ cho đến khi qua đời.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Tsedenbal được sinh ra trong một gia đình nghèo thuộc bộ tộc du mục Dörvöd tại hoshuu Zorigt Khan thuộc lãnh thổ của Unen Zorigt Khan (nay là Davst sum, Uvs aimag). Ông là con thứ năm trong gia đình gồm mười một người con (ba người đã mất từ khi còn nhỏ).

Năm 1925, Tsedenbal trở thành học sinh đầu tiên tại một trường công lập mới mở tại Ulaangom, và theo học tại đó tới năm 1929, khi ông chuyển tới Irkutsk để tiếp tục học cao hơn. Ông đã dành chín năm sống ở Irkutsk và Ulan-Ude. Tsedenbal đã nhận được bằng tốt nghiệp từ Học viện Tài chính và Kinh tế Siberian.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mao at Stalin's side on a ceremony arranged for Stalin's 70th birthday in Moscow in December 1949. Behind between them is marshal of the Soviet Union Nikolai Bulganin. on the right hand of Stalin is Walter Ulbricht of East Germany and at the edge Mongolia's Yumjaagiin Tsedenbal.
Tsedenbal (ngoài cùng bên phải) tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ 70 của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Joseph Stalin cùng với Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông.

Năm 1939, khi trở lại Ulaanbaatar, Tsedenbal bắt đầu làm việc với tư cách Thứ trưởng và sau đó là Bộ trưởng Bộ Tài chính. Năm 1940, tại đại hội lần thứ X của Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ, ông trở thành Tổng thư ký của Đảng ở tuổi 23.

Sau khi đạt được quyền lực vào năm 1952 với cái chết của Thống chế Khorloogiin Choibalsan, Tsedenbal bắt đầu tiến hành thanh trừng các đối thủ chính trị của mình: Dashiin Damba năm 1958–59, Daramyn Tömör-Ochir năm 1962, Luvsantserengiin Tsend năm 1963, gọi Tsogt-Ochiryn Loohuuz, Baldandorjiin NyambuuBandiin Surmaajav là "các thành phần phản đảng" năm 1964. Ông tiếp tục tại vị đến tháng 11 năm 1964, khi ông trở thành người đứng đầu nhà nước Mông Cổ.

Chủ trương đối ngoại của ông là cố gắng đưa Mông Cổ tiến gần hơn với Liên Xô. Dù vậy, Tsedenbal và các lãnh tụ khác của Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (như Tsagaan-Lamyn Dugersuren và Damdinjavyn Maidar) lại tỏ ý không hài lòng với chính sách kinh tế mà Liên Xô dành cho Mông Cổ. Trong khi Liên Xô muốn Mông Cổ tập trung vào ngành nông nghiệp và khai thác khoáng sản, Tsedenbal và những người ủng hộ lại muốn đưa Mông Cổ trở thành một nước công nghiệp, bất chấp sự phản đối của Liên Xô.[1] Đồng thời, Tsedenbal thường xuyên bày tỏ sự trung thành của mình với Kremlin và miêu tả những người có đường lối khác biệt trong đảng của mình là "thân Trung Hoa" và "dân tộc chủ nghĩa."[2]

Với sự ủng hộ tuyệt đối của Liên Xô, Tsedenbal đã hoàn thành công cuộc thanh trừng các đối thủ chính trị của mình. Trong suốt thời kỳ lãnh đạo đất nước, Tsedenbal đã nhiều lần đề nghị để Mông Cổ gia nhập Liên Xô, nhưng các đề nghị này luôn bị các lãnh đạo Liên Xô bác bỏ. Trong thời kỳ Chia rẽ Trung-Xô, Tsedenbal luôn đứng về phía Liên Xô và điều đó đã khiến Trung Quốc tức giận.[cần dẫn nguồn]

Tsedenbal bị ép phải từ chức vào tháng 8 năm 1984 trong một động thái được Liên Xô ủng hộ, được lý giải là do sự suy sụp cả về thể chất lẫn tinh thần của ông, nhưng chủ yếu là do việc ông phản đối việc làm ấm quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc. Jambyn Batmönkh trở thành Tổng thư ký mới của Đảng Nhân dân Cách Mạng Mông Cổ. Tsedenbal sống tại Moscow cho đến khi qua đời; thi hài của ông được đưa về chôn cất tại Mông Cổ

Người vợ mang quốc tịch Nga của ông, Anastasia Ivanovna Filatova (Анастасия Ивановна Филатова), thường được xem là một trong những biểu tượng quyền lực của Mông Cổ[cần dẫn nguồn] vì có quan hệ mật thiết với lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev.

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Mông Cổ

Nước ngoài

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Batbayar, Tsedendambyn. Modern Mongolia: A Concise History. Ulaanbaatar: 2002.
  • Nadirov, Sh. G. Tsedenbal and the Events of August 1984. Trans. Baasan Ragchaa. Bloomington (Ind.): Mongolia Society, 2005.
  • Rupen, Robert. How Mongolia is Really Ruled. A Political History of the Mongolian People’s Republic, 1900–1978. Stanford (Cal.): Hoover Institution Press, 1979.
  • Shinkarev, Leonid. Tsedenbal i Filatova. Liubov’, vlast’, tragedia. Moscow and Irkutsk: Izdatel’ Sapronov, 2004.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Balázs Szalontai, Tsedenbal’s Mongolia and the Communist Aid Donors: A Reappraisal. International Institute for Asian Studies Newsletter 35 (November 2004), p. 18.
  2. ^ Sergey Radchenko, Mongolian Politics in the Shadow of the Cold War, Journal of Cold War Studies, Vol. 8, Issue 1 (Winter 2005–06), pp. 95–119.
Chức vụ Đảng
Tiền nhiệm:
Dashiin Damba
Tổng thư ký Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ
ngày 8 tháng 4 năm 1940 – ngày 4 tháng 4 năm 1954
Kế nhiệm:
Dashiin Damba
Tiền nhiệm:
Dashiin Damba
Tổng thư ký Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ
ngày 22 tháng 11 năm 1958 – ngày 24 tháng 8 năm 1984
Kế nhiệm:
Jambyn Batmönkh
Chức vụ
Tiền nhiệm:
Khorloogiin Choibalsan
Thủ tướng Mông Cổ
ngày 26 tháng 1 năm 1952 – ngày 11 tháng 6 năm 1974
Kế nhiệm:
Jambyn Batmönkh
Tiền nhiệm:
Sonomyn Luvsan
Chủ tịch nước Mông Cổ
ngày 11 tháng 6 năm 1974 – ngày 8 tháng 8 năm 1984
Kế nhiệm:
Nyamyn Jagvaral

Bản mẫu:Leaders of CPM Bản mẫu:Thủ tường Mông Cổ Bản mẫu:Heads of state of Mongolia