Aleksey Anatolyevich Navalnyy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alexei Navalny
Sinh Alexei Anatolievich Navalny
4 tháng 6, 1976 (38 tuổi)
Butyn, quận Odintsovsky, tỉnh Moskva, Nga
Nơi cư trú Moskva
Quốc tịch Nga
Học vấn Đại học Nhân dân Thân hữu Nga
Đại học Tài chính của chính phủ Liên bang Nga
Đại học Yale
Công việc Luật sư
Tổ chức Quỹ đấu tranh chống tham nhũng
Nổi tiếng vì Hoạt động chính trị và xã hội, viết blog
Đảng phái chính trị Liên minh Nhân dân (Nga)
Yabloko (2000–2007)
Phong trào chính trị Hội đồng phối hợp nhóm Đối lập Nga
các tổ chức cấp tiến, dân sự quốc gia và dân chủ quốc gia
Đối thủ Vladimir Putin và đảng Thống nhất Nga
Thành viên của hội đồng Aeroflot (2012–2013)
Tín ngưỡng thiên chúa (Chính Thống giáo Nga)
Vợ (hoặc chồng) Yuliya Navalnaya
Con cái two
Website
navalny.ru
Giải thưởng Yale World Fellow (2010)


Alexei Anatolievich Navalny (tiếng Nga: Алексе́й Анато́льевич Нава́льный, sinh ngày 4 tháng sáu 1976) là một luật sư Nga và một nhà hoạt động chính trị và tài chính.[1] Từ năm 2009, ông nổi tiếng tại Nga, đặt biệt là trong giới báo chí truyền thông Nga, như là một nhà chỉ trích về nạn tham nhũng ở đó, nhất là của nhà lãnh tụ chính trị Vladimir Putin. Ông ta dùng blog LiveJournal để tổ chức những cuộc biểu tình quy mô để đề cập tới những vấn đề này. Ông ta cũng thường xuyên viết những bài tại các báo chí Nga, như tờ Forbes Nga. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2011 với thông tấn xã Reuters, ông cho rằng hệ thống chính trị của Nga bị yếu kém vì nạn tham nhũng, nên Nga có thể có một cuộc nổi dậy kiểu cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập trong vòng 5 năm tới.[2] Navalny là một thành viên hội đồng phối hợp đối lập Nga (Russian Opposition Coordination Council) và là lãnh tụ không chính thức của đảng chính trị Nga không đăng ký Liên minh Nhân dân Nga. Ông ta cũng là một ứng cử viên chính thức được ủng hộ bởi đảng Cộng hòa-đảng Tự do Nhân dân trong cuộc bầu cử thị trưởng Moskva mà sẽ được tổ chức vào ngày 8 tháng 9 2013.

Navalny được tờ báo kinh tế Nga Vedomosti phong làm "Người của năm 2009".[3] Năm 2010, với sự đề nghị của Garry Kasparov, Yevgenia Albats, Sergei Guriev and Oleg Tsyvinski, Navalny đi học tại đại học Yale University 6 tháng với chương trình "Yale World Fellows".[4][5][6] Năm 2011, đài BBC mô tả Navalny " có lẽ là một nhân vật đối lập chính duy nhất đã xuất hiện tại Nga trong 5 năm trở lại".[7] Năm 2012, tờ The Wall Street Journal cho rằng "ông ta là đối thủ chính trị mà Vladimir Putin sợ nhất".[8] Navalny là người Nga duy nhất được ghi vào danh sách 100 người gây nhiều ảnh hưởng nhất thế giới năm 2012 của tờ báo Time.[9] Nhưng cũng trong năm 2012, ông bị kiểm sát viên Liên bang buộc tội 3 vụ liên tiếp về biển thủ và lừa gạt. Tất cả ba vụ đều bị Navalny phủ nhận một cách quyết liệt.[10] Vào ngày 18 tháng 7 2013, ông ta bị kết án 5 năm tù tại trại lao động về tội biển thủ.[11][12][13][14][15] Trung tâm Nhân quyền Nga Memorial (Memorial Human Rights Center) đã công nhận Alexei Navalny là tù nhân lương tâm.[16] Ông được thả một ngày ngay sau khi bị kết án, trong lúc đợi kết quả của tòa phúc thẩm.[17]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Carl Schreck (9 tháng 3 năm 2010). “Russia's Erin Brockovich: Taking On Corporate Greed”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  2. ^ Guy Faulconbridge and Maria Tsvetkova (1 tháng 6 năm 2011). “Putin's Russia could face revolt: whistleblower”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  3. ^ “Персоны года — 2009: Частное лицо года”. Vedomosti (bằng tiếng Nga). 30 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  4. ^ Калинина, Юлия (10 июня 2011). “Блог накажет”. Moskovskij Komsomolets. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. “Меня исключили за то, что я говорил, что Явлинский должен идти в отставку” 
  5. ^ Собчак, Ксения Анатольевна; Соколова, Ксения Янисовна (24 февраля 2011). “Проблема бабла и зла”. GQ. Condé Nast Publications. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập 2011-12-12404. 
  6. ^ “Yale World Fellows Program”. Yale University. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ Stephen Ennis (21 tháng 12 năm 2011). “Profile: Russian blogger Alexei Navalny”. BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  8. ^ Matthew Kaminski (3 tháng 3 năm 2012). “The Man Vladimir Putin Fears Most (the weekend interview)”. The Wall Street Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  9. ^ Garry Kasparov (18 tháng 4 năm 2012). “Alexei Navalny”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  10. ^ “Russian opposition leader Navalny faces third inquiry”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. , BBC, 24 December 2012. Retrieved 2012-12-25.
  11. ^ Brumfield, Ben; Phil Black (July 18, 2013). “Report: Stark Putin critic Navalny hit with criminal conviction”. CNN. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  12. ^ New York Times: Russian Court Convicts Opposition Leader
  13. ^ The Guardian: Russia: Alexei Navalny found guilty of embezzlement
  14. ^ Le Monde: Cinq ans de prison pour l'opposant russe Alexeï Navalny: "Ne soyez pas résignés !"
  15. ^ “Lagerhaft für Blogger Nawalny: Putin lässt seinen schärfsten Kritiker kaltstellen”. Spiegel.de. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  16. ^ “Радио ЭХО Москвы:: Новости / Правозащитный центр Мемориал признал Алексея Навального политическим заключенным”. Echo.msk.ru. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  17. ^ Associated Press. “Russian opposition leader Alexei Navalny has been released from custody 1 day after sentencing”. The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013.