Alexander Haig

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alexander Haig
AlexanderHaig.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 22 tháng 1 năm 1981 – 5 tháng 7 năm 1982
Tiền nhiệm Edmund Muskie
Kế nhiệm George P. Shultz
Nhiệm kỳ 1973 – 1974
Tiền nhiệm H.R. Haldeman
Kế nhiệm Donald Rumsfeld
Thông tin chung
Đảng Cộng hòa
Sinh 2 tháng 12, 1924 (89 tuổi)
Philadelphia, Pennsylvania
Tôn giáo Công giáo La Mã
Binh nghiệp

Alexander Meigs Haig, Jr. (sinh ngày 2 tháng 12 năm 1924- 20/2/2010) là một tướng nghỉ hưu 4 sao của Quân đội Hoa Kỳ đã làm Ngoại trưởng dưới thời tổng thống Ronald ReaganTrưởng tham mưu Nhà Trắng dưới thời các tổng thống Richard NixonGerald Ford[1]. Năm 1973, Haig làm Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội [3]. Từ năm 1974-79, Haig làm Tư lệnh tối cao Đồng Minh châu Âu (SACEUR), và làm tư lệnh mặc nhiên của các lực lượng Mỹ và NATO ở châu Âu. Haig là một cựu binh trong Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam và là người nhận giải Distinguished Service Cross, huy chương cao thứ hai của Quân đội Mỹ, ông cũng nhận được huy chương cao thứ hai của Quân đội Mỹ về tinh thần anh hùng, cũng như Silver Star với Oak Leaf ClusterPurple Heart[2].

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Haig học Trường dự bị St. Joseph ở Philadelphia và tốt nghiệp tại Trường Trung học Lower Merion ở Ardmore, Pennsylvania. Sau đó ông học tại Đại học Notre Dame trong một năm trước khi chuyển qua học và tốt nghiệp tại West Point năm 1947. Ông đã học quản trị kinh doanh tại Columbia Business School năm 1954 và 1955. Ông nhận được bằng cao học quan hệ quốc tế tại Đại học Georgetown năm 1961 nơi luận văn của ông tập trung vào vai trò của sỹ quan quân đội trong việc hoạch định chính sách quốc gia.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]