Bộ Cá mòi đường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Cá mòi đường
Thời điểm hóa thạch: 60–0Ma
Tiền Paleocen - gần đây[1]
Bonefish.png
Cá mòi đường (Albula vulpes)
Pterothrissus gissu.jpg
Pterothrissus gissu
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)

Teleostei

(không phân hạng) Elopocephalai
(không phân hạng) Elopocephala
Liên bộ (superordo) Elopomorpha
Bộ (ordo) Albuliformes
Greenwood, D. E. Rosen, S. H. Weitzman & G. S. Myers, 1966
Họ (familia) Albulidae
Bleeker, 1859
Các chi

Bộ Cá mòi đường (danh pháp khoa học: Albuliformes) là bộ cá vây tia chỉ gồm một họ (Albulidae), phổ biến như là cá câu thể thao và giải trí tại Florida. Họ nhỏ, với 11 loài trong 2 chi[1].

Hiện nay Bộ Cá mòi đường nằm trong bộ của riêng mình: Albuliformes /ˌælbjʊlɪˈfɔrmz/. Cá chình gai (Notacanthidae) và Halosauridae trước đây được phân loại trong bộ này,[2] nhưng hiện nay, theo FishBase, chúng nằm trong bộ của chúng: Notacanthiformes[3].

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Albula[sửa | sửa mã nguồn]

Các họ hàng gần nhất của cá mòi đường là cá cháo lớncá cháo biển trong Bộ Cá cháo biển (Elopiformes). Cá mòi đường khác cá cháo ở chỗ miệng của chúng nằm ở phía dưới của mõm chứ không phải ở phần kết thúc của mõm, mõm cá mòi đường cũng không thò ra thụt vào được như mõm cá cháo. Giống như cá cháo, cá mòi đường có thể hít thở không khí nhờ bong bóng đã biến hóa, và chúng được tìm thấy trong các vùng nước lợ. Ấu trùng của cá mòi đường có đầu dẹp và trong suốt (leptocephalus).

Thân mảnh dẻ của cá mòi đường có màu trắng bạc, với lưng màu lam hay lục. Ở nửa trên của thân có các sọc sẫm màu với các dải ngang nối với đường bên. Cơ thể cá mòi đường thuôn tròn với mõm dài hơi cong xuống. Các vây lưng và đuôi màu đen. Kích thước cá trưởng thành từ 40–100 cm tùy loài. Trọng lượng trung bình khoảng 1–2 kg (3-5 pao) với kỷ lục cá câu được tại Florida là 16 pao 3 oz (7,34 kg).

Cá mòi đường là cá nước lợ và nước mặn, thường sống ở khu vực cửa sông và di chuyển ra biển đẻ trứng theo kỳ trăng. Chúng kiếm ăn tại các nền cát và bùn nông, với thức ăn là các loại sinh vật sống ở đáy, như giun, động vật thân mềm, tôm, cua. Chúng dùng chiếc mõm hình nón để hất tung con mồi ra khỏi nơi ẩn nấp, và thường có thể thấy đuôi của chúng nhô lên khỏi mặt nước. Cá mòi đường có các răng nghiền trên vòm miệng của chúng.

Pterothrissus[sửa | sửa mã nguồn]

2 loài trong chi này giống như 9 loài của chi Albula, ngoại trừ việc chúng trong vùng nước sâu hơn.

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2011). "Albulidae" trên FishBase. Phiên bản tháng tháng 6 năm 2011.
  2. ^ “Mikko's Phylogeny Archive for Albuliformes”. 
  3. ^ "Notacanthiformes". FishBase. Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Phiên bản 05 năm 2006. N.p.: FishBase, 2006.
  4. ^ Pfeiler, E., Van Der Heiden, A.M., Ruboyianes, R.S., & Watts, T. (2011). Albula gilberti, a new species of bone fish (Albuliformes: Albulidae) from the eastern Pacific, and a description of adults of the parapatric A. esuncula. Zootaxa 3088: 1-14.
  5. ^ Kwun, H.J. & Kim, J.K. (2011): A new species of bonefish, Albula koreana (Albuliformes: Albulidae) from Korea and Taiwan. Zootaxa, 2903: 57–63.
  6. ^ Hidaka, Iwatsuki & Randall (2008). “A review of the Indo-Pacific bonefishes of the Albula argentea complex, with a description of a new species”. Ichthyological Research 55 (1): 53–64. doi:10.1007/s10228-007-0010-5.