Bao Thanh Thiên (phim truyền hình 1993)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bao Thanh Thiên
(包青天)
Bao Thanh Thiên 1993.jpg
Thể loại Phim truyền hình
Định dạng 60 phút/tập
Kịch bản Trần Văn Quý, Ôn Lệ Phương, Đặng Dục Côn
Đạo diễn Trần Tuấn Lương, Trần Liệt, Đặng Dục Khánh, Trịnh Thiểu Phong, Lưu Lập Lập, Vương Trọng Quang, Kim Ngao Huân, Tô Nguyên Phong, Hầu Bách Uy, Tôn Thụ Bồi, Lý Anh, Lưu Vi Nghĩa, Vương Hiểu Hải
Diễn viên Kim Siêu Quần, Hà Gia Kính, Phạm Hồng Hiên
Nhạc dạo Bao Thanh Thiên
Nhạc kết Tân uyên ương hồ điệp mộng
Quốc gia  Đài Loan
Số tập 236
Sản xuất
Nhà sản xuất Triệu Đại Thâm
Trình chiếu
Kênh trình chiếu CTS
Kênh trình chiếu tại Việt Nam HTV
Phát sóng 1993 – 1994
Thông tin khác
Chương trình liên quan Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên

Bao Thanh Thiên (包青天) là một loạt phim truyền hình nhiều tập tập của Đài Loan được phát sóng lần đầu vào tháng 2 năm 1993, kết thúc vào tháng 1 năm 1994. Thuộc thể loại phim truyền hình cổ trang lấy đề tài điều tra phá án, loạt phim xoay xung quanh các vụ án xảy ra đời Bắc Tống được viên quan nổi tiếng là Bao Công xét xử. Dàn diễn viên chính của bộ phim gồm Kim Siêu Quần vai Bao Công, Hà Gia Kính vai Triển ChiêuPhạm Hồng Hiên trong vai Công Tôn Sách. Bản nhạc dạo đầu của phim là Bao Thanh Thiên, kết thúc mỗi tập phim là bản Tân uyên ương hồ điệp mộng, ngoài ra bản Huề thủ du nhân gian cũng được sử dụng. Bộ phim được dự kiến ​​ban đầu chỉ 15 tập. Tuy nhiên, những tập phát sóng ban đầu thu hút tỉ lệ xem đài cao. Do đó, CTS mở rộng độ dài loạt phim. Toàn bộ loạt phim truyền hình Bao Thanh Thiên có độ dài 236 tập với thời lượng 60 phút mỗi tập, mỗi câu chuyện về một vụ án thường diễn ra trong khoảng 4 đến 5 tập.

Bao Thanh Thiên sau khi công chiếu đã đạt được thành công vang dội ở nhiều nước châu Á như Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Thái Lan, SingaporeViệt Nam. Bộ phim đã tạo ra một cơn sốt về phim lấy đề tài điều tra phá án, sau thành công của Bao Thanh Thiên, đã có nhiều phim truyền hình khác khai thác đề tài về Bao Công như Tân Bao Thanh Thiên, Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên, Bao Công xuất tuần, Bao Công kỳ án và nhiều bộ phim khác có sự xuất hiện của nhân vật Bao Thanh Thiên.[1]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong toàn loạt phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kim Siêu Quần trong vai Bao Công, phủ doãn phủ Khai Phong. Ông là một vị quan nổi tiếng thanh liêm chính trực và được vua ban cho Thượng phương bảo kiếm có quyền chém trước, tâu sau. Để chém tội phạm Bao Công có ba loại đao khác nhau, "Long đầu trảm" dùng để chém hoàng thân quốc thích, "Hổ đầu trảm" để chém quan lại và "Cẩu đầu trảm" dùng để chém tội phạm thường.
  • Hà Gia Kính trong vai Triển Chiêu.
  • Phạm Hồng Hiên trong vai Công Tôn Sách, thư sinh phụ tá cho Bao Công.
  • 4 hộ vệ của Bao Công: Cao Niệm Quốc trong vai Vương Triều, Từ Kiến Vũ, sau đó là Lưu Việt Địch trong vai Mã Hán, Dương Hùng trong vai Trương Long, Thiệu Trường Sinh trong vai Triệu Hổ.

Trong các vụ án[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trát mỹ án: Dương Hoài Dân trong vai Trần Thế Mỹ, Lưu Tuyết Hoa trong vai Tần Hương Liên, Hầu Bính Doanh trong vai công chúa, Tào Kiện trong vai Vương Thừa Tướng, Dương Bình An trong vai Hàn Kỳ.
  • Chân giả trạng nguyên: Âu Dương Long trong vai Châu Cần, Triệu Thụ Hải trong vai Châu Cần giáp, Thái Xán Đắc trong vai Tô Khất Nhi, Trịnh Tú Anh trong vai Vương Yên Nhu
  • Ly miêu hoán thái tử: Tăng Á Quân trong vai Lý phi, Tiêu Ngải trong vai Lưu hậu, Thai Trí Nguyên trong vai Quách Hòe, Văn Soái trong vai Trần Lâm, Hồ Huệ Linh trong vai Khấu Châu và Mai Nương.
  • Song đinh ký: Lâm Tại Bồi trong vai Lý Thành Nam, Khâu Vu Đình trong vai Trương Ngân Hoa, Dương Quần trong vai Hồ Tây Bá, Phó Lôi trong vai Vương Khôi, Lý Lệ Phụng trong vai Vương mẫu, Dương Trọng Ân trong vai Châu Thanh Tùng, Lý Tinh Dao trong vai Vương Bình Nhi, Kha Thục Cần trong vai Châu Lệ Nhi.
  • Thám âm sơn: Dương Hoài Dân trong vai Nhan Tra Tán, Ứng Hiểu Vy trong vai Liễu Kim Thiền, Thẩm Mạnh Sinh trong vai Trần Vi Đường, Diệp Phi trong vai Phùng Quân Hành.
  • Hồng hoa ký: Hạ Linh Linh trong vai Cổ Trường Ngọc, Trương Du trong vai Nguyệt Nương và Bạch Như Mộng, Du An Thuận trong vai Tiểu Phi, Trương Li Li trong vai Tiểu Hồng, Trương Chấn Hoàn trong vai Bạch Ngọc Đường, Lưu Uyển Lâm trong vai Lan Lan.
  • Trát Bàng Dục: Dương Hoài Dân trong vai Điền Khởi Nguyên, Khâu Vu Đình trong vai Kim Ngọc Nương, Nữu Thừa Trạch trong vai Bàng Dục.
  • Trát Bao Miễn: Thai Trí Nguyên trong vai Bao Miễn, Lưu Minh trong vai Bao mẫu, Đổng Văn trong vai Tuệ Nhi, Châu Tuệ Trân trong vai Diễm Nương, Thẩm Mạnh Sinh trong vai Văn Nhược Ngu, Diệp Phi trong vai Hoa Hồ Điệp, Dương Quần trong vai Lôi Tùng Tiêu, Lục Nhất Long trong vai Ngao Chấn.
  • Ô bồn ký: Triệu Thụ Hải trong vai Lý Hạo, Trịnh Tú Anh trong vai Chu Vân Nương, Văn Soái trong vai Vương Tiến, Lục Nhất Long trong vai Đinh Thiên, Trương Dự Diệu trong vai Giang Vạn Lý.
  • Thu Nương: Lưu Tuyết Hoa trong vai Hoắc Thu Nương, Dương Hoài Dân trong vai Trương Tụng Đức, Trương Phục Kiến trong vai Hoàng Đại Hổ, Lý Nghệ Dân trong vai Trương Tam, Đường Kỳ trong vai Bà bà.
  • Trát vương gia: Dương Hữu Quan trong vai Triệu Vương, Trương Du trong vai Mai Hương, Khải Khải trong vai Đường Tiểu Quang, Trương Ly Ly trong vai Lưu Kim Phụng, Tôn Bằng trong vai Đường Văn Phi.
  • Cổ cầm oán: Trương Ngọc Yến trong vai Thái Ngọc Viên, Thang Chí Vỹ trong vai Lưu Đào, Triệu Vĩnh Hinh trong vai Trần Bích Nga, Trần Hồng Liệt trong vai Trần thái úy, Tăng Á Quân trong vai Lưu mẫu.
  • Tam kích cổ: Triệu Thụ Hải trong vai Gia Luật Mộng Long, Tiêu Đại Lục trong vai Trương Hoành Tổ, Lưu Tuyết Hoa trong vai Tần Băng Cơ, Kim Thao trong vai Tần Bành Niên, Hạ Linh Linh trong vai Tần phu nhân, Hoan Hoan trong vai Linh Lung, Lý Cần trong vai Trương Tuyết Nhi, Trương Phục Kiến trong vai Gia Luật Hồng
  • Song sinh kiếp: Tống Dật Dân trong vai Thiền Bình, Tống Đạt Dân trong vai Thiền Chính, Triệu Vĩnh Hinh trong vai Tân Mẫn Trinh, Châu Lâm Lâm trong vai Tiểu Hỷ, Lý Trường An trong vai Tân Hoàng Viễn, Vương Vũ trong vai Tân Cần, Lục Nhất Long trong vai Điêu Lục.
  • Thiên hạ đệ nhất trang: Lưu Đức Khải trong vai Bùi Mộ Văn, Trương Ngọc Yến trong vai Thạch Ngọc Nô, Diệp Phi trong vai Mã Hùng.
  • Uyên ương hồ điệp mộng: Dương Hoài Dân trong vai Thạch Vĩnh Tĩnh, Khâu Vu Đình trong vai Thẩm Nhu & Thẩm Ly Cấu, Trương Phục Kiện trong vai Tang Bác, Cố Quán Trung trong vai Liễu Thanh Bình, Lưu Uyển Lâm trong vai Thạch Thanh.
  • Huyết vân phiên truyền kỳ: Cung Từ Ân trong vai Chúc Thái Vân, Câu Phong trong vai Liên Côn, Lý Quý Luân trong vai Trừng Nhân, Vu Hằng trong vai Liên Phúc, Du Khẳng Đức trong vai Liên Hạo Vân, Trương Phục Kiện trong vai Chúc Đại Minh, Lục Phong trong vai Liễu Không đại sư.
  • Thanh long châu: Triệu Thụ Hải trong vai Nhạc Thiên Thù, Cung Từ Ân trong vai Nhiếp Tiểu Hồng, Cố Quán Trung trong vai Vương Can, Dư Kế Khổng trong vai Hà Khiêm, Cát Tranh trong vai Nhiếp phụ, Lưu Tú Văn trong vai Nhiếp mẫu, Trịnh Nghi Phần trong vai Nhiếp Tiểu Đình.
  • Cửu đạo bản: Dương Hoài Dân trong vai Vương Luân, Địch Oanh trong vai Vương Yến Yến, Triệu Vĩnh Hinh trong vai Minh Nguyệt và Mạc Sầu, Tạ Bình Nam trong vai Kinh Vô Mệnh.
  • Bồ Tát lĩnh: Trương Bội Hoa trong vai Sở Thiên Minh, Cố Quán Trung trong vai Lộ Cường, Điền Bình Xuân trong vai Cát Chính Hàm, Thái Xán Đắc trong vai Dương Ngọc Sinh, Tống Đạt Dân trong vai Từ Quý.
  • Ngũ Thử náo Đông Kinh: Trương Quốc Trụ trong vai Toàn Thiên Thử - Lư Phương; Ngô Nguyên Tuấn trong vai Triệt Địa Thử - Hàn Chương, Bằng Tam trong vai Xuyên Sơn Thử - Từ Khánh; Lục Nhất Long trong vai Phiên Giang Thử - Tưởng Bình, Cố Quán Trung trong vai Cẩm Mao Thử - Bạch Ngọc Đường, Tạ Bình Nam trong vai Sa Thiên Lý, Lưu Tú Văn trong vai Cửu Vỹ Hồ, Địch Oanh trong vai Mạnh Xuân Ni.

Danh sách các vụ án[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Số tập Tên gốc Tên chiếu tại Việt Nam
#1 6 (1-6) 鍘美案 (Trát Mỹ án) Xử án Trần Thế Mỹ
#2 5 (7-11) 真假狀元 (Chân giả trạng nguyên) Trạng nguyên thật, trạng nguyên giả
#3 7 (12-18) 狸貓換太子 (Ly miêu hoán thái tử) Ly miêu hoán thái tử
#4 3 (19-21) 雙釘記 (Song đinh ký) Vụ án hai cây đinh
#5 4 (22-25) 探陰山 (Thám Âm sơn) Thám Âm sơn
#6 4 (26-29) 紅花記 (Hồng hoa ký) Vụ án hoa hồng
#7 5 (30-34) 鍘龐昱 (Trảm Bàng Dục) Vụ án Bàng Dục
#8 9 (35-43) 鍘包勉 (Trát Bao Miễn) Vụ án Bao Miễn
#9 3 (44-46) 烏盆記 (Ô bồn ký) Cái chậu đen
#10 5 (47-51) 秋娘 (Thu Nương) Thu Nương
#11 4 (52-55) 鍘王爺 (Trát Vương gia) Vụ án Vương gia
#12 5 (56-60) 古琴怨 (Cổ cầm oán) Cổ cầm oán
#13 9 (61-69) 三擊鼓 (Tam Kích Cổ) Ba hồi trống giục
#14 5 (70-74) 攣生劫 (Song sinh kiếp) Anh em sinh đôi
#15 5 (75-79) 報恩亭 (Báo Ân Đình) Báo Ân Đình
#16 5 (80-84) 真假女婿 (Chân giả nữ tế) Rể thật rể giả
#17 4 (85-88) 紫金錘 (Tử kim chùy) Tử kim chùy
#18 9 (89-97) 天下第一莊 (Thiên hạ đệ nhất trang) Thiên hạ đệ nhất trang
#19 5 (98-102) 寸草心 (Thốn thảo tâm) Tấm lòng thơm thảo
#20 8 (103-110) 屠龍記 (Đồ long ký) Đồ long ký
#21 5 (111-115) 鴛鴦蝴蝶夢 (Uyên ương hồ điệp mộng) Uyên ương hồ điệp mộng
#22 6 (116-121) 天倫劫 (Thiên luân kiếp) Thiên luân kiếp
#23 6 (122-127) 孔雀膽 (Khổng tước đảm) Mật khổng tước
#24 6 (128-133) 真假包公 (Chân giả Bao Công) Bao Công thật, Bao Công giả
#25 6 (134-139) 貞節牌坊 (Trinh tiết bài phường) Tấm biển trinh tiết
#26 5 (140-144) 血雲幡傳奇 (Huyết vân phiên truyền kỳ) Huyết vân phiên
#27 7 (145-151) 生死戀 (Sinh tử luyến) Sinh tử luyến
#28 6 (152-157) 尋親記 (Tầm thân ký) Tầm thân ký
#29 6 (158-163) 踏雪尋梅 (Đạp tuyết tầm mai) Đạp tuyết tầm mai
#30 6 (164-169) 青龍珠 (Thanh long châu) Viên ngọc thanh long
#31 6 (170-175) 魚美人 (Ngư mỹ nhân) Người cá
#32 5 (176-180) 狄青 (Địch Thanh) Vụ án Địch Thanh
#33 7 (181-187) 孝子章洛 (Hiếu tử Chương Lạc) Hiếu tử Chương Lạc
#34 7 (188-194) 雷霆怒 (Lôi đình nộ) Lôi đình nộ
#35 7 (195-201) 陰陽判 (Âm dương phán) Quẻ bói âm dương
#36 6 (202-207) 九道本 (Cửu đạo bản) Chín bản tấu chương
#37 6 (208-213) 菩薩嶺 (Bồ tát lĩnh) Núi Bồ tát
#38 6 (214-219) 畫中話 (Họa trung thoại Lời trong tranh
#39 6 (220-225) 龐妃有喜 (Bàng phi hữu hỉ) Bàng phi có mang
#40 6 (226-231) 乞丐王孫 (Khất cái vương tôn) Vương tôn ăn mày
#41 5 (232-236) 五鼠鬧東京 (Ngũ thử náo Đông Kinh) Ngũ thử đại náo Đông Kinh

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

1995 - Lễ trao Giải Chuông Vàng lần thứ 30[2]:

  • Đoạt giải - Kim Siêu Quần, diễn viên chính phim truyền hình xuất sắc nhất
  • Đoạt giải - Thai Trí Nguyên, diễn viên phụ phim truyền hình xuất sắc nhất cho vai diễn Quách Hòe.
  • Đoạt giải - Lưu Minh, diễn viên phụ phim truyền hình xuất sắc nhất

Nhạc chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu phim[sửa | sửa mã nguồn]

Bài nhạc chủ đề mở đầu phim do ca sĩ Hồ Qua (胡瓜) trình bày có cùng tựa đề của bộ phim. Ban đầu bản nhạc được ca sĩ Chiang Kuang-Chao trình bày từ loạt phim cùng tựa đề trước đó của hãng CTS vào năm 1974.

  • Một phiên bản tiếng Quảng Đông ("願世間有青天" - Nguyện thế gian hữu thanh thiên) do Lâm Tử Tường trình bày chính là nhạc nền đầu phim khởi chiếu trên đài TVB của Hồng Kông. Nó cũng là nhạc dạo mở đầu phim cho hai phiên bản khác vào năm 1995 của đài TVB, cả hai đều mang tên "Bao Thanh Thiên".
  • Phiên bản tiếng Tagalog là nhạc nền mở đầu phim chiếu trên đài ABC-5 tại Philippines.

Cuối phim[sửa | sửa mã nguồn]

Bản nhạc cuối phim là "Tân uyên ương hồ điệp mộng" (tiếng Trung: 新鴛鴦蝴蝶夢), do Hoàng An (黃安) sáng tác và trình bày.

  • Bản nhạc đã trở thành một hiện tượng lớn trong thế giới Hoa ngữ, và album của Hoàng An với cùng tựa đề đã trở thành một trong những album bán chạy nhất tại Đài Loan, với hơn 1 triệu bản được bán ra.
  • Các phiên bản ở nhiều ngôn ngữ khác ra đời dựa theo ảnh hưởng của bộ phim trong khu vực. Hà Gia Kính cho ra đời phiên bản tiếng Quảng Đông (cũng với tên gọi "Tân uyên ương hồ điệp mộng") do Albert Leung viết lời. Hai phiên bản tiếng Quảng Đông sau đó (đều mang tựa "愛於錯誤年代" - Ái ư thác ngộ niên đại) đều do ca sĩ Hoàng An và Loletta Lee trình bày. Một phiên bản tiếng Anh nổi tiếng do ban nhạc Tokyo Square của Singapore trình bày mang tên "Can't Let Go". Một phiên bản tiếng Anh khác cũng được thu âm với tựa đề "Wonderful World". Ngoài ra còn các phiên bản tiếng Phúc Kiến Đài Loan ("Uyên ương hồ điệp mộng" của ca sĩ Joyce Lim), tiếng Thái ("สุดจะหยุดใจ" của Koong Tuangsith Reamchinda), tiếng Việt ("Uyên ương hồ điệp mộng" của Đan Trường), tiếng Khmer ("ព្រួយ ជាមួយ ចន្ទ" của Khemarak Sereymon) và tiếng Indonesia ("Melody Memory" của Lavenia), cùng một số phiên bản khác.

Một bản nhạc kết phim khác cũng được sử dụng trong một vài tập là "Huề thủ du nhân gian" (tiếng Trung: 攜手遊人間; nghĩa đen "Dắt tay dạo thế gian") do Trương Chân thể hiện.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]