Cá thát lát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá thát lát
Notopterus notopterus46.JPG
Notopterus notopterus.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Osteoglossiformes
Họ (familia) Notopteridae
Chi (genus) Notopterus
Loài (species) N. notopterus
Danh pháp hai phần
Notopterus notopterus
(Pallas, 1769)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Clupea synura Bloch & Schneider, 1801
  • Gymnotus notopterus Pallas, 1769
  • Mystus badgee Sykes, 1839
  • Mystus kapirat (Lacepède, 1800)
  • Notopterus bontianus Valenciennes, 1848
  • Notopterus kapirat Lacepède, 1800
  • Notopterus kopirot Lacepède, 1800
  • Notopterus osmani Rahimullah & Das, 1991
  • Notopterus pallasii Valenciennes, 1848
  • Notopterus primaevus Günther, 1876

Cá thát lát (danh pháp khoa học: Notopterus notopterus) là một loài cá nước ngọt, duy nhất của chi Notopterus trong họ Cá thát lát (Notopteridae).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá thát lát có thân dài, dẹt, có đuôi rất nhỏ, vảy nhỏ phủ toàn thân. Miệng tương đối to có mõm ngắn bằng, rạch miệng kéo dài đến trước ổ mắt. Vây hậu môn liền với vây đuôi. Loại cá thát lát thường thấy có màu xám ở lưng và màu trắng bạc ở bụng, phía dưới viền xương nắp mang màu vàng, dài đến 400 mm, nặng đến 500 g, trung bình khoảng 200 g.

Cá thát lát thuộc loài cá ăn tạp. Thành thục sau khoảng một năm tuổi, khi thân dài đến 165 mm, nặng 200 g cá bắt đầu sinh sản vào tháng 5 đến tháng 7. Trứng đẻ ra bám chặt vào đá và được cá đực bảo vệ rất kỹ, cá bố thường xuyên dùng đuôi vẫy nước để tạo điều kiện cho trứng hô hấp.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Cá thát lát phân bố rộng rãi trong các vùng nước tự nhiênẤn Độ và có ở hầu hết các nước Đông Dương. Ở Việt Nam, cá thát lát tự nhiên phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, sông Đồng Nai và các tỉnh miền Trung, Tây nguyên... Do sức sinh sản tự nhiên tốt nên sản lượng khai thác cá thát lát ở tự nhiên khá cao[cần dẫn nguồn].

Đây là loài bản địa của Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Myanma, Nepal, Pakistan, Thái Lan. Loài này được xếp vào nhóm ít quan tâm theo IUCN3.1[1]

Đắk Lắk, cá thát lát Hồ Lắk đã trở thành một món ăn nổi tiếng. Món chả cá thát lát Hồ Lắk ăn với rau thì là là một món ăn có tiếng trong các tour du lịch Đắk Lắk.

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cá thát lát cho thịt ngon, ít xương đặc biệt thịt có độ dẻo đặc biệt nên rất được ưa chuộng để dùng chế biến món chả cá, coi như một món đặc sản. Ở một số địa phương đã nhân được giống và nuôi cá thát lát trong môi trường nhân tạo trong ao, ruộng, mương vườn cho năng suất cao.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]