Epinephelus
| Epinephelus Thời điểm hóa thạch: 55–0Ma Eocen - gần đây[1] |
|
|---|---|
Cá mú khổng lồ (Epinephelus itajara) |
|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | |
| (không phân hạng) | Craniata |
| Phân ngành (subphylum) | Vertebrata |
| Phân thứ ngành (infraphylum) | Gnathostomata |
| Liên lớp (superclass) | Osteichthyes |
| Lớp (class) | Actinopterygii |
| Phân lớp (subclass) | Neopterygii |
| Phân thứ lớp (infraclass) | Teleostei |
| Liên bộ (superordo) | Acanthopterygii |
| Bộ (ordo) | Perciformes |
| Phân bộ (subordo) | Percoidei |
| Liên họ (superfamilia) | Percoidea |
| Họ (familia) | Serranidae |
| Phân họ (subfamilia) | Epinephelinae |
| Chi (genus) | Epinephelus Bloch, 1793 |
| Các loài | |
|
Xem văn bản.
|
|
Epinephelus là danh pháp khoa học của một chi trong họ Cá mú (Serranidae). Chúng là các loài cá lớn sinh sống ngoài biển. Tên gọi chung của chúng là cá mú hay cá song. Các tên gọi này cũng chia sẻ với một vài chi khác, như Plectropomus.
Các loài [sửa]
FishBase liệt kê 99 loài:
- Cá mú chấm hay cá song chấm, Epinephelus areolatus (Forsskål, 1775).
- Cá mú chấm vạch, Epinephelus amblycephalus (Bleeker, 1857).
- Cá mú ngực sọc, Epinephelus faveatus (Valenciennes, 1828).
- Cá mú đốm đen, Epinephelus stictus Randall & Allen, 1987.
- Cá mú yên đen, Epinephelus howlandi (Günther, 1873).
- Cá song sáu sọc ngang đen, Epinephelus fasciatus (Forsskål, 1775).
- Cá mú lam vàng, Epinephelus flavocaeruleus (Lacépède, 1802).
- Cá mú cương, Epinephelus heniochus Fowler, 1904.
- Cá mú hoa nâu hay cá mú cọp, Epinephelus fuscoguttatus (Forsskål, 1775).
- Cá song chấm xanh, cá mú chấm hay cá mú đốm nâu, Epinephelus chlorostigma (Valenciennes, 1828).
- Cá mú ngụy trang, Epinephelus polyphekadion (Bleeker, 1849).
- Cá mú mặt mèo, Epinephelus andersoni Boulenger, 1903.
- Cá mú Clipperton, Epinephelus clippertonensis Allen & Robertson, 1999.
- Cá mú mây, Epinephelus erythrurus (Valenciennes, 1828).
- Cá mú Comet, Epinephelus morrhua (Valenciennes, 1833).
- Cá mú Convict, Epinephelus septemfasciatus (Thunberg, 1793).
- Cá mú san hô, Epinephelus corallicola (Valenciennes, 1828).
- Cá mú Darwin, Epinephelus darwinensis Randall & Heemstra, 1991.
- Cá mú răng chó, Epinephelus caninus (Valenciennes, 1843).
- Cá mú chấm vạch, Epinephelus poecilonotus (Temminck & Schlegel, 1842).
- Cá mú chấm, Epinephelus epistictus (Temminck & Schlegel, 1842).
- Cá mú Dungat, Epinephelus goreensis (Valenciennes, 1830).
- Cá mú sẫm màu, Epinephelus marginatus (Lowe, 1834).
- Cá mú đuôi sẫm, Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878).
- Cá mú tám sọc, Epinephelus octofasciatus Griffin, 1926.
- Cá mú Epaulet, Epinephelus stoliczkae (Day, 1875).
- Cá mú bốn yên, Epinephelus spilotoceps Schultz, 1953.
- Cá mú nghệ hay cá mú lớn, Epinephelus lanceolatus (Bloch, 1790).
- Cá mú Goldblotch, Epinephelus costae (Steindachner, 1878).
- Cá song mỡ hay cá mú mỡ, Epinephelus tauvina (Forsskål, 1775).
- Cá mú Haifa, Epinephelus haifensis Ben-Tuvia, 1953.
- Cá mú Halfmoon, Epinephelus rivulatus (Valenciennes, 1830).
- Cá mú Hawaii, Epinephelus quernus Seale, 1901.
- Cá mú vây cao, Epinephelus maculatus (Bloch, 1790).
- Cá mú lỗ tổ ong, Epinephelus merra Bloch, 1793.
- Cá mú chấm đỏ hay cá mú Hồng Kông, Epinephelus akaara (Temminck & Schlegel, 1842).
- Cá mú khổng lồ, Epinephelus itajara (Lichtenstein, 1822).
- Cá mú vây dài, Epinephelus quoyanus (Valenciennes, 1830).
- Cá mú gai dài, Epinephelus longispinis (Kner, 1864).
- Cá mú răng dài, Epinephelus bruneus Bloch, 1793.
- Cá mú đen, cá mú chấm đen hay cá mú Malabar, Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider, 1801).
- Cá mú Maori, Epinephelus undulatostriatus (Peters, 1866).
- Cá mú Marquesan, Epinephelus irroratus (Forster, 1801).
- Cá mú Misty, Epinephelus mystacinus (Poey, 1852).
- Cá mú râu, Epinephelus chabaudi (Castelnau, 1861).
- Cá mú nhiều đốm, Epinephelus gabriellae Randall & Heemstra, 1991.
- Cá mú Mystery, Epinephelus lebretonianus (Hombron & Jacquinot, 1853).
- Cá mú Nassau, Epinephelus striatus (Bloch, 1792).
- Cá mú vây lưới, Epinephelus miliaris (Valenciennes, 1830).
- Cá mú sọc xiên, Epinephelus radiatus (Day, 1868).
- Cá mú ôliu, Epinephelus cifuentesi Lavenberg & Grove, 1993.
- Cá mú một nhọt, Epinephelus melanostigma Schultz, 1953.
- Cá mú đen chấm nâu, cá mú chấm gai hay cá mú đốm cam, Epinephelus coioides (Hamilton, 1822).
- Cá mú khổng lồ Thái Bình Dương, Epinephelus quinquefasciatus, (Lichtenstein, 1822).
- Cá mú Palemargin, Epinephelus bontoides (Bleeker, 1855).
- Cá mú Plump, Epinephelus trophis Randall & Allen, 1987.
- Cá mú Potato, Epinephelus tukula Morgans, 1959.
- Cá mú Puzzling, Epinephelus perplexus Randall, Hoese & Last, 1991.
- Cá mú đỏ, Epinephelus morio (Valenciennes, 1828).
- Cá mú đuôi đỏ, Epinephelus guttatus (Linnaeus, 1758).
- Cá mú đầu đỏ, Epinephelus retouti Bleeker, 1868.
- Cá mú mắt lưới, Epinephelus tuamotuensis Fourmanoir, 1971.
- Cá mú đá, Epinephelus fasciatomaculosus (Peters, 1865).
- Rock hind, Epinephelus adscensionis (Osbeck, 1765).
- Rooster hind, Epinephelus acanthistius (Gilbert, 1892).
- Saddletail grouper, Epinephelus daemelii (Günther, 1876).
- Cá mú Seamount, Epinephelus suborbitalis Amaoka & Randall, 1990.
- Cá song bảy sọc, Epinephelus ergastularius Whitley, 1930.
- Cá song sáu sọc, Epinephelus sexfasciatus (Valenciennes, 1828).
- Cá mú vảy nhỏ, Epinephelus polylepis Randall & Heemstra, 1991.
- Cá mú tuyết, Epinephelus niveatus (Valenciennes, 1828).
- Cá mú mũi khoằm, Epinephelus macrospilos (Bleeker, 1855).
- Cá mú Somali, Epinephelus indistinctus Randall & Heemstra, 1991.
- Cá mú đốm lam, Epinephelus cyanopodus (Richardson, 1846).
- Cá mú lốm đốm, Epinephelus magniscuttis Postel, Fourmanoir & Guézé, 1963.
- Cá mú đốm nhỏ, Epinephelus drummondhayi Goode & Bean, 1878.
- Cá mú má gai, Epinephelus diacanthus (Valenciennes, 1828).
- Cá mú đốm, Epinephelus analogus Gill, 1863.
- Cá mú sao, Epinephelus labriformis (Jenyns, 1840).
- Cá mú đốm sao, Epinephelus hexagonatus (Forster, 1801).
- Cá mú núm sao, Epinephelus niphobles Gilbert & Starks, 1897.
- Cá mú sọc, Epinephelus latifasciatus (Temminck & Schlegel, 1842).
- Cá mú vây sọc, Epinephelus posteli Fourmanoir & Crosnier, 1964.
- Cá mú Summan, Epinephelus summana (Forsskål, 1775).
- Cá mú sóng, Epinephelus socialis (Günther, 1873).
- Cá mú mười gai, Epinephelus exsul (Fowler, 1944).
- Cá mú ba đốm, Epinephelus trimaculatus (Valenciennes, 1828).
- Cá mú Tonga, Epinephelus chlorocephalus (Valenciennes, 1830).
- Cá mú hai đốm, Epinephelus bilobatus Randall & Allen, 1987.
- Cá mú Warsaw, Epinephelus nigritus (Holbrook, 1855).
- Cá mú vạch sóng, Epinephelus undulosus (Quoy & Gaimard, 1824).
- Cá mú trắng, Epinephelus aeneus (Geoffroy Saint-Hilaire, 1817).
- Cá mú nhọt trắng, Epinephelus multinotatus (Peters, 1876).
- Cá mú chấm trắng, Epinephelus polystigma (Bleeker, 1853).
- Cá mú rìa trắng, Epinephelus albomarginatus Boulenger, 1903.
- Cá mú đốm trắng, Epinephelus coeruleopunctatus (Bloch, 1790).
- Cá mú sọc trắng, Epinephelus ongus (Bloch, 1790).
- Cá mú vàng, Epinephelus awoara (Temminck & Schlegel, 1842).
- Cá mú gờ vàng, Epinephelus flavolimbatus Poey, 1865.
- Cá mú đốm vàng, Epinephelus timorensis Randall & Allen, 1987.
Tại Việt Nam [sửa]
Các loài cá trong chi này được nuôi khá phổ biến tại Việt Nam. Ba loài cá đang được ưu tiên nuôi gồm có:
- E. malabaricus (cá mú đen)
- E. akaara (cá mú chấm đỏ)
- E. fuscoguttatus (cá mú chấm hoa nâu)
Trong đó loài cá có giá trị kinh tế nhất là cá mú chấm đỏ vì thịt chắc và thơm ngon hơn 2 loài còn lại. Tuy nhiên thời gian nuôi để đạt được cùng trọng lượng mất gấp đôi so với cá mú đen và cá mú chấm hoa nâu. Ngoài ra việc sản xuất giống loài cá này cũng đang gặp nhiều khó khăn hơn hai loài còn lại.
Cá mú đen và cá mú chấm hoa nâu đang được nuôi phổ biến tại vùng duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam. Giống hai loài cá này hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ các nước như Indonesia, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan v.v. Ở Việt Nam tại Viện NCNTTS III (Nha Trang) cũng đang thử nghiệm sản xuất giống, tuy nhiên sản lượng giống sản xuất ra chưa đáp ứng được nhu cầu của người nuôi. Riêng cá mú chấm đỏ lại được ưa chuộng nuôi tại vùng biển phía Bắc (các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng)
Cá mú có giá trị kinh tế rất cao. Giá thị trường hiện nay đối với loài cá mú đen và cá mú chấm hoa nâu là 200.000-300.000 đồng/kg đối với cá có kích cỡ từ 800 g - 1 kg. Cá mú chấm đỏ giá 400.000-500.000 đồng/kg.
Cá mú hiện nay chủ yếu được nuôi bè trên biển chỉ một số ít nuôi ao) nên phần lớn vấn giữ được tính chất "tự nhiên" của thịt hải sản rặng san hô. Vùng nuôi cá mú hiện nay ở Việt Nam tập trung ở các vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hoà (Nha Trang, vạn giã, cam ranh), Bình thuận (huyện đảo Phú Quý), Kiên Giang (huyện đảo Phú Quốc) vv...
Món cá mú dễ ăn và được yêu thích nhất là cá mú hấp. Ngoài ra còn có thể chế biến thành lẩu cá mú, chiên, sốt, cá mú ăn mù tạt (susimi) cũng rất hấp dẫn. Thịt cá mú chắc, ngọt và thơm ăn vào sẽ cảm nhận được hương vị của biển cả.
Tham khảo [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Epinephelus. |
- ^ Sepkoski, Jack (2002). “A compendium of fossil marine animal genera”. Bulletins of American Paleontology 364: trang 560. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008.
- Epinephelus (TSN 167694) tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS). Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2006.
- Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2006). Các loài trong Epinephelus trên FishBase. Phiên bản tháng tháng 1 2006.