HMS Premier (D23)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


HMS Premier
Tàu sân bay hộ tống HMS Premier
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Estero
Hãng đóng tàu: Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation, Seattle, Washington
Đặt lườn: 31 tháng 10 năm 1942
Hạ thủy: 22 tháng 3 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Bà C. N. Ingraham
Hoàn thành: tháng 10 năm 1943
Xếp lớp lại: CVE-42, 15 tháng 7 năm 1943
Số phận: chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Premier
Nhập biên chế: 3 tháng 11 năm 1943
Xuất biên chế: 21 tháng 5 năm 1946
Đổi tên: Rhodesia Star
Hong Kong Knight
Số phận: Bán để hoạt động dân sự
tháo dỡ năm 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Ameer
Trọng tải choán nước: 16.620 tấn
Độ dài: 151 m (495 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,2 m (69 ft 6 in)
Mớn nước: 7,9 m (26 ft)
Công suất lắp đặt: 8.500 mã lực (6,3 MW)
Động cơ đẩy: 1 × turbine hơi nước hộp số
2 × nồi hơi
1 × trục
Tốc độ: 33,3 km/h (18 knot)
Thủy thủ đoàn: 890
Vũ trang: 2 × hải pháo 102 mm (4 inch)/50 caliber (1×2)
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2)
35 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Máy bay mang theo: 24
Thiết bị bay: 2 × thang nâng

HMS Premier (D23), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS Estero (CVE-42) thứ nhất (ký hiệu lườn ban đầu AVG-42 và sau đó là ACV-42) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và đã hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Estero được đặt lườn vào ngày 31 tháng 10 năm 1942 tại xưởng đóng tàu của hãng Seattle-Tacoma ShipbuildingSeattle, Washington; nó được hạ thủy vào ngày 22 tháng 3 năm 1943, được đỡ đầu bởi Bà C. N. Ingraham, và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn CVE-42 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943. Sau khi hoàn tất vào tháng 10 năm 1943, Estero được chuyển cho Anh Quốc vào ngày 3 tháng 11 theo chương trình Cho thuê-cho mượn, được đổi tên thành HMS Premier (D23), và đã hoạt động trong chiến tranh như một chiếc thuộc lớp Ameer.

Premier phục vụ như một tàu sân bay hộ tống chống tàu ngầm tại các vùng biển Châu Âu, cũng như là một tàu sân bay vận chuyển. Sau chiến tranh, nó được hoàn trả cho Hoa Kỳ vào ngày 2 tháng 4 năm 1946, được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 21 tháng 5 năm 1946, rồi được bán để hoạt động hàng hải thương mại tư nhân vào năm 1947 dưới tên gọi Rhodesia Star, sau đó đổi tên thành Hong Kong Knight. Nó được tháo dỡ tại Đài Loan vào năm 1974.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A1