HMS Pursuer (D73)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS St. George (CVE-17).jpg
Tàu sân bay hộ tống HMS Pursuer (D73)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: SS Mormacland
Hãng đóng tàu: Ingalls Shipbuilding, Pascagoula, Mississippi
Đặt lườn: 31 tháng 7 năm 1941
Hạ thủy: 18 tháng 7 năm 1942
Đỡ đầu bởi: Mary Ann S. Bartman
Đổi tên: USS St. George, 7 tháng 1 năm 1942
Xếp lớp lại: ACV-17 20 tháng 8 năm 1942
CVE-17 15 tháng 7 năm 1943
Số phận: Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Pursuer
Nhập biên chế: 14 tháng 6 năm 1943
Xuất biên chế: 12 tháng 2 năm 1946
Xóa đăng bạ: 28 tháng 3 năm 1946
Số phận: Hoàn trả cho Hoa Kỳ; bị tháo dỡ 14 tháng 5 năm 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Attacker
Trọng tải choán nước: 14.400 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 149,8 m (491 ft 6 in)
Sườn ngang: 32 m (105 ft)
Mớn nước: 7,9 m (26 ft)
Công suất lắp đặt: 8.500 mã lực (6,3 MW)
Động cơ đẩy: 1 × turbine hơi nước hộp số
2 × nồi hơi
1 × trục
Tốc độ: 33,3 km/h (18 knot)
Thủy thủ đoàn: 646
Vũ trang: 2 × hải pháo 102 mm (4 inch)/50 caliber (1×2)
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2)
35 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Máy bay mang theo: 20
Thiết bị bay: 2 × thang nâng

HMS Pursuer (D73), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS St. George (CVE-17) (ký hiệu lườn ban đầu AVG-17 và rồi là ACV-17) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, và đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai như một chiếc thuộc lớp Attacker. Sau chiến tranh nó được hoàn trả cho Mỹ, và bị tháo dỡ vào năm 1946.

Thiết kế – Chế tạo – Chuyển giao[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được đặt lườn vào ngày 15 tháng 5 năm 1941 như một tàu hàng kiểu C3-S-A1 tên gọi SS Mormacland (thứ hai) dành cho hãng Moore-McCormack Lines, Inc. (số hiệu đóng tàu 163), theo hợp đồng với Ủy ban Hàng hải Hoa Kỳ; và được chế tạo bởi hãng Ingalls Shipbuilding tại Pascagoula, Mississippi. Nó được Hải quân Hoa Kỳ sở hữu và đổi tên thành St. George (AVG-17) vào ngày 7 tháng 1 năm 1942; và đến ngày 4 tháng 2 năm 1942 nó được chuyển cho Anh Quốc theo chương trình Cho thuê-cho mượn dưới tên gọi HMS Pursuer (D73).

Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 7 năm 1942; được đỡ đầu bởi Bà Ann S. Bartman, được xếp lại lớp thành ACV-17 vào ngày 20 tháng 8 năm 1942; được chuyển giao cho Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 14 tháng 6 năm 1943. Nó được xếp lại lớp thành CVE-17 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Pursuer phục vụ cùng với Hạm đội Nhà Anh Quốc trong suốt cuộc chiến tranh, chủ yếu trong vai trò hộ tống các đoàn tàu vận tải. Tuy nhiên, vào ngày 3 tháng 4 năm 1944, nó cũng thực hiện các phi vụ bay hỗ trợ để không kích chiếc thiết giáp hạm Đức Tirpitz tại Altenfjord thuộc Na Uy, vốn đã loại khỏi vòng chiến chiến tàu chiến Đức trong vòng ba tháng. Vào tháng 6 năm 1944, Pursuer hoạt động cùng với một đội tàu sân bay Anh Quốc để hỗ trợ chống tàu ngầm trong trận Normandy; và hỗ trợ trên không cho cuộc đổ bộ lực lượng Đồng Minh lên miền Nam nước Pháp trong tháng 8tháng 9.

Chiếc tàu sân bay được hoàn trả cho Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 2 năm 1946. Nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 28 tháng 3 năm 1946, và được bán cho hãng Patapsco Steel Scrap Co. tại Bethlehem, Pennsylvania vào ngày 14 tháng 5 năm 1946 để tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A2