HMS Patroller (D07)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Keweenaw
Hãng đóng tàu: Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation, Tacoma, Washington
Đặt lườn: 27 tháng 11 năm 1942
Hạ thủy: 6 tháng 5 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Bà R. G. Risley
Xếp lớp lại: CVE-44, 15 tháng 7 năm 1943
Số phận: chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Patroller
Nhập biên chế: 22 tháng 10 năm 1943
Xuất biên chế: 7 tháng 2 năm 1947
Đổi tên: Almkerk
Pacific Reliance
Số phận: Bán để hoạt động dân sự
tháo dỡ năm 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Ameer
Trọng tải choán nước: 9.800 tấn
Độ dài: 151 m (495 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,2 m (69 ft 6 in)
Mớn nước: 7,9 m (26 ft)
Công suất lắp đặt: 8.500 mã lực (6,3 MW)
Động cơ đẩy: 1 × turbine hơi nước hộp số
2 × nồi hơi
1 × trục
Tốc độ: 33,3 km/h (18 knot)
Thủy thủ đoàn: 890
Vũ trang: 2 × hải pháo 102 mm (4 inch)/50 caliber (1×2)
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2)
35 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Máy bay mang theo: 18-24
Thiết bị bay: 2 × thang nâng

HMS Patroller (D07), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS Keweenaw (CVE-44) (ký hiệu lườn ban đầu AVG-44 và sau đó là ACV-44) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và đã hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Keweenaw được đặt lườn theo một hợp đồng với Ủy ban Hàng hải Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 11 năm 1942 tại xưởng đóng tàu của hãng Seattle-Tacoma ShipbuildingTacoma, Washington; nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 5 năm 1943, được đỡ đầu bởi Bà R. G. Risley, và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn CVE-44 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943. Nó được chuyển cho Anh Quốc vào ngày 22 tháng 10 năm 1943 theo chương trình Cho thuê-cho mượn, được đổi tên thành HMS Patroller (D07), và đã hoạt động trong chiến tranh như một chiếc thuộc lớp Ameer.

Patroller đã phục vụ tại Đại Tây Dương trong vai trò hộ tống và tuần tra, với vài chuyến đi vận chuyển máy bay ngắn cho cả Hải quânLục quân Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, nó về đến Norfolk, Virginia vào ngày 9 tháng 12 năm 1946 và được hoàn trả cho Hoa Kỳ cùng ngày hôm đó. Tên của nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 7 tháng 2 năm 1947, và nó được bán cho hãng Waterman Steamship Corporation, Mobile, Alabama, vào ngày 26 tháng 8 năm 1947 để hoạt động hàng hải thương mại tư nhân dưới tên gọi Almkerk, sau đó đổi tên thành Pacific Reliance. Nó được tháo dỡ tại Đài Loan vào năm 1974.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A1