HMS Rajah (D10)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


HMS Rajah
Tàu sân bay hộ tống HMS Rajah
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: McClure
Hãng đóng tàu: Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation, Tacoma, Washington
Đặt lườn: 17 tháng 12 năm 1942
Hạ thủy: 18 tháng 5 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Bà J. L. McGuigan
Đổi tên: USS Prince, 13 tháng 11 năm 1942
Số phận: chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Rajah
Nhập biên chế: 17 tháng 1 năm 1944
Xuất biên chế: 7 tháng 2 năm 1947
Đổi tên: Drente
Lambros
Ulysses
Số phận: Bán để hoạt động dân sự
tháo dỡ năm 1975
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Ameer
Trọng tải choán nước: 9.800 tấn
Độ dài: 151 m (495 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,2 m (69 ft 6 in)
Mớn nước: 7,8 m (25 ft 6 in)
Công suất lắp đặt: 8.500 mã lực (6,3 MW)
Động cơ đẩy: 1 × turbine hơi nước hộp số
2 × nồi hơi
1 × trục
Tốc độ: 31,5 km/h (17 knot)
Thủy thủ đoàn: 646
Vũ trang: 2 × hải pháo 102 mm (4 inch)/50 caliber (1×2)
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2)
35 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Máy bay mang theo: 24
Thiết bị bay: 2 × thang nâng

HMS Rajah (D10), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS Prince (CVE-45) (ký hiệu lườn ban đầu AVG-45 và sau đó là ACV-45) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và đã hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Prince thoạt tiên được dự định như một tàu hàng kiểu C3 tên gọi McClure theo một hợp đồng với Ủy ban Hàng hải Hoa Kỳ, nhưng được đổi tên thành Prince vào ngày 13 tháng 11 năm 1942 và được đặt lườn vào ngày 17 tháng 12 năm 1942 tại xưởng đóng tàu của hãng Seattle-Tacoma ShipbuildingTacoma, Washington. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 5 năm 1943, được đỡ đầu bởi Bà J. L. McGuigan, và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn CVE-45 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943. Nó được chuyển cho Anh Quốc vào ngày 17 tháng 10 năm 1943 theo chương trình Cho thuê-cho mượn, được đổi tên thành HMS Rajah (D10), và đã hoạt động trong chiến tranh như một chiếc thuộc lớp Ameer.

Sau khi phục vụ trong chiến tranh, nó được hoàn trả cho Hoa Kỳ tại Norfolk, Virginia vào ngày 13 tháng 12 năm 1946, được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 7 tháng 2 năm 1947, và nó được bán cho hãng Waterman Steamship Corporation Mobile, Alabama, vào ngày 7 tháng 7 năm 1947 để hoạt động hàng hải thương mại tư nhân dưới tên gọi Drente, sau đó đổi tên thành Lambros, và rồi là Ulysses. Nó được tháo dỡ tại Đài Loan vào năm 1975.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A1