HMS Ranee (D03)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Ranee
Tàu sân bay hộ tống HMS Ranee
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Niantic
Hãng đóng tàu: Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation, Tacoma, Washington
Đặt lườn: 5 tháng 1 năm 1943
Hạ thủy: 2 tháng 6 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Bà Ray V. Blanco
Xếp lớp lại: ACV-46, 20 tháng 8 năm 1942
CVE-46, 15 tháng 7 năm 1943
Số phận: chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS
Nhập biên chế: 8 tháng 11 năm 1943
Xuất biên chế: 22 tháng 1 năm 1947
Đổi tên: Friesland
Pacific Breeze
Số phận: Bán để hoạt động dân sự
tháo dỡ năm 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Ameer
Trọng tải choán nước: 7.800 tấn
Độ dài: 151 m (495 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,2 m (69 ft 6 in)
Mớn nước: 7,9 m (26 ft)
Công suất lắp đặt: 8.500 mã lực (6,3 MW)
Động cơ đẩy: 1 × turbine hơi nước hộp số
2 × nồi hơi
1 × trục
Tốc độ: 33,3 km/h (18 knot)
Thủy thủ đoàn: 890
Vũ trang: 2 × hải pháo 102 mm (4 inch)/50 caliber (1×2)
20 × pháo phòng không Bofors 40 mm (10×2)
Máy bay mang theo: 24
Thiết bị bay: 2 × thang nâng

HMS Ranee (D03), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS Niantic (CVE-46) (ký hiệu lườn ban đầu AVG-46 và sau đó là ACV-46) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và đã hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Niantic, thoạt tiên dự định mang ký hiệu lườn AVG-46, được xếp lại lớp thành ACV-46 vào ngày 20 tháng 8 năm 1942. Nó được đặt lườn vào ngày 5 tháng 1 năm 1943 tại xưởng đóng tàu của hãng Seattle-Tacoma ShipbuildingTacoma, Washington; được hạ thủy vào ngày 2 tháng 6 năm 1943, được đỡ đầu bởi Bà Ray V. Blanco, và được xếp lại lớp một lần nữa với ký hiệu lườn CVE-46 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943. Nó được chuyển cho Anh Quốc vào ngày 8 tháng 11 năm 1943 theo chương trình Cho thuê-cho mượn, được đổi tên thành HMS Ranee (D03), và đã hoạt động trong chiến tranh như một chiếc thuộc lớp Ameer.

Ranee phục vụ như một tàu sân bay chống tàu ngầm, tuần tra và hộ tống các đoàn tàu vận tải tại Đại Tây Dương chống lại các tàu ngầm U-boat cùng một số hoạt động huấn luyện.

Sau chiến tranh, nó được hoàn trả cho Hoa Kỳ tại Norfolk, Virginia vào ngày 21 tháng 11 năm 1946. Được xem là không còn cần đến trong việc phòng thủ, nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 22 tháng 1 năm 1947, rồi được bán cho hãng Waterman Steamship Corporation Mobile, Alabama, vào ngày 9 tháng 6 năm 1947 để hoạt động hàng hải thương mại tư nhân dưới tên gọi Friesland, sau đó đổi tên thành Pacific Breeze. Nó được tháo dỡ tại Đài Loan vào năm 1974.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A1