HMS Empress (D42)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Empress
Tàu sân bay hộ tống HMS Empress
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Carnegie
Hãng đóng tàu: Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation
Đặt lườn: 9 tháng 9 năm 1942
Hạ thủy: 30 tháng 12 năm 1942
Xếp lớp lại: ACV-38, 20 tháng 8 năm 1942
CVE-38, 15 tháng 7 năm 1943
Số phận: chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Empress
Nhập biên chế: 12 tháng 8 năm 1943
Xuất biên chế: 28 tháng 3 năm 1946
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Ameer
Trọng tải choán nước: 7.800 tấn
Độ dài: 151 m (495 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,2 m (69 ft 6 in)
Mớn nước: 7,9 m (26 ft)
Công suất lắp đặt: 8.500 mã lực (6,3 MW)
Động cơ đẩy: 1 × turbine hơi nước hộp số
2 × nồi hơi
1 × trục
Tốc độ: 32,4 km/h (17,5 knot)
Thủy thủ đoàn: 890
Vũ trang: 2 × hải pháo 102 mm (4 inch)/50 caliber (1×2)
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2)
35 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Máy bay mang theo: 28
Thiết bị bay: 2 × thang nâng

HMS Empress (D42), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS Carnegie (CVE-38) (ký hiệu lườn ban đầu AVG-38 và sau đó là ACV-38) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và đã hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Carnegie được đặt lườn vào ngày 9 tháng 9 năm 1942 tại xưởng đóng tàu của hãng Seattle-Tacoma Shipbuilding, được xếp lại lớp với ký hiệu ACV-38 vào ngày 20 tháng 8 năm 1942, và được hạ thủy vào ngày 30 tháng 12 năm 1942. Nó được xếp lại lớp một lần nữa với ký hiệu mới CVE-38 vào ngày 15 tháng 7 năm 1943. Carnegie được đưa ra hoạt động ngày 9 tháng 8 năm 1943, chỉ ba ngày trước khi được chuyển cho Anh Quốc theo chương trình Cho thuê-cho mượn, được đổi tên thành HMS Empress (D42), và đã phục vụ trong chiến tranh như một chiếc thuộc lớp Ameer.

Một chiếc Avenger thuộc Phi đội 845 Không lực Hải quân Hoàng gia cất cánh từ HMS Empress ngoài khơi Trincomalee.

Empress đã hoạt động tại cả Thái Bình DươngẤn Độ Dương. Vào tháng 9 năm 1945, Empress tham gia Chiến dịch Tiderace, cuộc tái chiếm Singapore từ tay người Nhật. Sau chiến tranh, nó được hoàn trả cho Hoa Kỳ vào ngày 28 tháng 1 năm 1946, được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân ngày 28 tháng 3 năm 1946, rồi được bán để tháo dỡ vào ngày 21 tháng 6 năm 1946.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A1