Hosni Mubarak

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Muhammad Hosni Sayed Mubarak
محمد حسنى سيد مبارك
Hosni Mubarak ritratto.jpg
Tổng thống thứ tư của Ai Cập
Nhiệm kỳ 14 tháng 10, 1981 – 11 tháng 2, 2011
&0000000000000030.00000030 năm, &0000000000000148.000000148 ngày
Tiền nhiệm Anwar Al-Sadad
Kế nhiệm Mohamed Hussein Tantawi (tạm quyền)
Đảng NDP
Sinh 4 tháng 5, 1928 (83 tuổi)
Kafr-El Meselha, Monufia, Ai Cập

Muhammad Hosni Mubarak (tiếng Ả Rập: محمد حسنى سيد مبارك), tên đầy đủ: Muhammad Hosni Sayyid Mubarak, thường được gọi là Hosni Mubarak, sinh ngày 4 tháng 5 năm 1928, là Tổng thống Ai Cập từ ngày 6 tháng 10 năm 1981 đến ngày 11 tháng 2 năm 2011. Dưới sức ép biểu tình của quần chúng nhân dân, ngày 11 tháng 2 năm 2011, ông đã phải từ chức sau 30 năm cầm quyền (là Tổng thống nhờ đảo chính quân sự), trao lại quyền hành cho quân sự, chờ một cuộc tổng tuyển cử tự do vào tháng 9 năm 2011.[1]

Là một tín đồ Hồi giáo Sunni, gia nhập Đảng Dân chủ Dân tộc (Ai Cập), Mubarak được bổ nhiệm là Phó Tổng thống Ai Cập sau khi làm quan chức cấp cao của Không lực Ai Cập. Ông lên kế nhiệm chức Tổng thống sau vụ ám sát Tổng Thống Anwar Al-Sadad vào ngày 6 tháng 10 năm 1981.

Ngày 25 tháng 01 năm 2011, một cuộc biểu tình lớn đã nổ ra ở trung tâm thủ đô Cairo đòi Mubarak phải từ chức ngay lập tức và kéo dài tới tận bây giờ (tức 10/02/2011).[2] Ngày 01/02/2011, Mubarak tuyên bố sẽ không tái tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo vào tháng 09/2011[3] Ngày 05/02/2011, truyền thông nhà nước Ai Cập đưa tin rằng các thành viên cao cấp của Đảng Dân chủ Quốc gia của Mubarak đã từ chức lãnh đạo đảng, trong đó có cả ông Mubarak. Tuy nhiên, sau đó lại có thông tin ông Mubarak vẫn sẽ giữ chức tổng thống, ít nhất là cho tới cuộc bầu cử Tổng thống tới.[4] Đến ngày 11 tháng 2, ông Mubarak chính thức từ chức và chuyển giao quyền lực cho Hội đồng tối cao các lực lượng vũ trang (Ai Cập).

Trong khi tại vị, tham nhũng trong Bộ máy chính quyền của Mubarak đã tăng đáng kể, do tăng cường quyền lực trong hệ thống thể chế cần để bảo đảm cho nhiệm kỳ Tổng thống kéo dài. Tham nhũng đã dẫn đến việc bắt giam những nhân vật chính trị và nhà hoạt động trẻ mà không cần xét xử,[5] giam giữ bất hợp pháp không có giấy tờ, [6] [7] và đàn áp các trường đại học, nhà thờ Hồi giáo, các phóng viên dựa trên khuynh hướng chính trị[8]. Quan chức chính phủ được phép vi phạm quyền riêng tư của công dân trong khu vực của mình bằng cách bắt giữ không điều kiện theo luật khẩn cấp.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), tổ chức quốc tế chống tham nhũng, bao gồm tham nhũng chính trị, trong năm 2010, đưa ra chỉ số tham nhũng đánh giá Ai Cập với điểm số CPI là 3.1, dựa trên nhận thức về mức độ tham nhũng từ những người kinh doanh và các nhà phân tích quốc gia, với 10 là rất sạch sẽ và 0 là rất tham nhũng. Ai Cập đứng thứ 98 trong số 178 nước trong báo cáo.[9] Theo Tổ chức Phóng viên Không biên giới (Reporters Without Borders), Ai Cập đứng thứ 133 trên 168 về tự do báo chí.[10]

Mục lục

[sửa] Quá trình 30 năm cầm quyền

Muhammad Hosni Sayyid Mubarak chào đời ngày 4/5/1928 ở một ngôi làng nhỏ tại châu thổ sông Nile. Dù xuất thân nghèo khó, Mubarak tốt nghiệp Học viện quân sự Ai Cập năm 1949 trước khi gia nhập Không lực.

Là chỉ huy lực lượng không quân Ai Cập và là thứ trưởng Quốc phòng, Mubarak giữ một vai trò trong việc hoạch định cuộc tấn công bất ngờ nhằm vào quân Israel tại bán đảo Sina ngay từ đầu cuộc chiến Yom Kippur năm 1973. Mubarak đã tham gia đàm phán hiệp ước hòa bình với Israel tại trại David. Hiệp ước hòa bình ký năm 1979 giữa Tổng thống Anwar Sadat (giữa) và Thủ tướng Israel Menachem Begin. Trước khi Tổng thống Anwar Sadat bị ám sát năm 1981, Mubarak đã được giữ chức phó Tổng thống. Ít người đoán được rằng vị phó Tổng thống chưa mấy tiếng tăm lại giữ vị trí lãnh đạo tối cao lâu tới như vậy.

Mubarak đã thiết lập mối quan hệ vững chắc với Mỹ, vốn cung cấp cho Ai Cập hàng tỷ USD viện trợ quân sự. Với phương tây, Ai Cập là đồng minh chủ chốt - tiếng nói ôn hòa về cuộc xung đột Israel-Palestine. Tuy nhiên, là đồng minh của phương tây khiến Mubarak trở thành mục tiêu của quân Hồi giáo cực đoan. Mubarak đã thoát 6 âm mưu ám sát với vụ thoát chết trong gang tấc vào năm 1995 ở thủ đô Addis Ababa của Ethiopia.

Tuy nhiên, có một khoảng tối đằng sau sự nắm quyền của ông Mubarak. Các thành viên của nhóm đối lập Anh em Hồi giáo, thường bị bắt giam, và tra tấn là chuyện bình thường. Cơ quan mật vụ thâm nhập khắp nơi và nhiều người Ai Cập cảm thấy bị tước bỏ phẩm giá. Trong những năm nắm quyền gần đây, Tổng thống Mubarak thường phải chịu sức ép khuyến khích dân chủ từ cả hai phía, trong Ai Cập và từ Mỹ.

Khi biểu tình nổ ra vào tháng 1/2011, sức ép trở nên không thể kham nổi. Mubarak phải từ chức đúng một ngày sau khi phát biểu trên truyền hình rằng sẽ tại vị tới tận bầu cử tháng 9. Sau 18 ngày diễn ra các cuộc biểu tình, phó Tổng thống Omar Suleiman tuyên bố Mubarak rời ghế Tổng thống.[11]

[sửa] Tài sản và cáo buộc tham nhũng

Sau khi bị lật đổ, Mubarak và gia đình bị cáo buộc đã tham nhũng nhiều tỷ đô la trong suốt quá trình cầm quyền. Gia đình ông hiện tại có tài sản rất lớn. Trị giá của cải của gia đình Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak có thể lên tới 70 tỷ USD, với phần lớn tài sản cất giấu trong các ngân hàng của Anh, Thụy Sĩ và bất động sản tại Anh và Mỹ.[12]

Sau 30 năm làm Tổng thống và giữ các vị trí quân sự cấp cao, ông Mubarak được tiếp cận với nhiều hợp đồng đầu tư, vốn sản sinh ra hàng trăm triệu bảng Anh lợi nhuận. Hầu hết những lợi nhuận có được đều thu ở nước ngoài và gửi trong các tài khoản ngân hàng bí mật hoặc đầu tư vào thị trường nhà cao cấp hoặc khách sạn.

Theo một bản tin trên báo Ả Rập là Al Khabar, Tổng thống Mubarak có nhiều cơ ngơi ở Manhattan, biệt thự Beverly Hills trên đường Rodeo Drive.

Con trai Tổng thống Mubarak là Gamal và Alaa cũng là các tỷ phú.

Sau khi từ chức, ngày 11/2/2011, Chính phủ Thụy Sĩ phong tỏa mọi tài sản của tổng thống Ai Cập bị lật đổ Hosni Mubarak trong các ngân hàng nước này. "Chính phủ (Thụy Sĩ) làm như vậy là để tránh nguy cơ có người biển thủ tài sản của Ai Cập", tuyên bố của Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ có đoạn. "Chúng tôi cũng kêu gọi các quan chức có trách nhiệm của Ai Cập tuân thủ những đòi hỏi chính đáng của nhân dân trong việc công khai, minh bạch, nhanh chóng và đáng tin cậy". [13]

Người Ai Cập xuống đường biểu tình vì nhiều nguyên nhân, trong đó có việc họ nghi ngờ rằng nhà Mubarak đã lợi dụng quyền lực để làm giàu, lấy của công của đất nước Ai Cập. Tờ Wall Street Journal dẫn thông tin của Global Financial Integrity, một tổ chức chuyên theo dõi tình trạng tham nhũng ở các nước đang phát triển, ước tính rằng có tới 57 tỷ USD tài sản đã được tuồn bất hợp pháp ra khỏi Ai Cập trong giai đoạn 2000-2008. [14]


[sửa] Các đời thủ tướng

[sửa] Gia đình

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú thích

  1. ^ http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/8880/tong-thong-ai-cap-tu-chuc.html
  2. ^ “Egypt Calls In Army as Protesters Rage”, New York Times. Truy cập 28 tháng 1 năm 2011.
  3. ^ Kirkpatrick, David D.. “Mubarak Says He Won’t Run for President Again”, 1 tháng 2 năm 2011.
  4. ^ “Mubarak resigns as head of Egypt ruling party: TV”, Reuters. Truy cập 5 tháng 2 năm 2011.
  5. ^ Suzanne Choney (27 January 2011). "Egyptian bloggers brave police intimidation". MSNBC. http://www.msnbc.msn.com/id/41285248/ns/technology_and_science-tech_and_gadgets/. Retrieved 28 January 2011
  6. ^ Jane Mayer (2006-10-30). "The C.I.A.'s Travel Agent". The New Yorker. http://www.newyorker.com/archive/2006/10/30/061030ta_talk_mayer. Retrieved 28 January 2011.
  7. ^ Kalla fakta (2004-05-18). "Striptease brevpapperl Agent". http://www.trojkan.se. http://www.trojkan.se/temp/Reportage/KF_Extraordinary_Rendition/English_version/The%20Broken%20Promise%20-%20%20How%20we%20did%20it.doc. Retrieved 28 January 2011.
  8. ^ Jack Shenker (2010-11-22). "Egyptian elections: independents fight for hearts and minds in 'fixed ballot'". The Guardian. http://www.guardian.co.uk/world/2010/nov/22/egypt-elections-muslim-brotherhood-ndp. Retrieved 2011-01-28.
  9. ^ "CPI 2010 table". Transparency International. http://www.transparency.org/policy_research/surveys_indices/cpi/2010/results. Retrieved 2010-10-26.
  10. ^ Annual Worldwide Press Freedom Index". Reporters sans frontières. 2006. Archived from the original on 2007-06-17. http://web.archive.org/web/20070617050730/http://www.rsf.org/article.php3?id_article=19386. Retrieved 19 June 2007.
  11. ^ http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/8889/chang-duong-tu-nam-quyen-toi-lu-c-ra-di-cua-mubarak.html
  12. ^ http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/8536/thuc-hu-tong-thong-ai-cap-co-70-ty-usd.html
  13. ^ http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/02/tai-san-cua-mubarak-bi-phong-toa/
  14. ^ http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/02/tai-san-cua-mubarak-bi-phong-toa/
  15. ^ http://en.wikipedia.org/wiki/Human_rights_in_Egypt
Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác