Kính viễn vọng không gian Hubble

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kính viễn vọng không gian Hubble
HST-SM4.jpeg
Kính Hubble nhìn từ tàu con thoi Atlantis, trong phi vụ 4 (STS-125), phi vụ thứ 5 và chuyến bay có người cuối cùng tới kính này.
Thông tin chung
NSSDC ID 1990-037B
Thời gian hoạt động 24 years, 4 months, and 23 days
Rời quỹ đạo ~ 2013–2021[1][2]
Khối lượng 11.110 kg (24.490 lb)
Kiểu quỹ đạo Quỹ đạo thấp quanh Trái Đất gần tròn
Độ cao quỹ đạo 559 km (347 mi)
Chu kỳ quỹ đạo 96–97 phút
Vận tốc quỹ đạo 7.500 m/s (25.000 ft/s)
Gia tốc do hấp dẫn 8,169 m/s2 (26,80 ft/s2)
Vị trí Quỹ đạo thấp quanh Trái Đấtt
Kiểu kính Kính phản xạ Ritchey-Chretien
Bước sóng Quang học, tia cực tím, gần hồng ngoại
Đường kính 2,4 m (7 ft 10 in)
Diện tích thu tín hiệu 4,5 m2 (48 sq ft)[3]
Tiêu cự 57,6 m (189 ft)
Thiết bị
NICMOS infrared camera/spectrometer
ACS optical survey camera
(partially failed)
WFC3 wide field optical camera
COS ultraviolet spectrograph
STIS optical spectrometer/camera
FGS three fine guidance sensors
Website hubble.nasa.gov
hubblesite.org
www.spacetelescope.org
Ảnh chụp kính thiên văn vũ trụ Hubble.

Kính thiên văn vũ trụ Hubble (tiếng Anh: Hubble Space Telescope, viết tắt HST) là một kính thiên văn của NASA, mang tên của nhà thiên văn học Mỹ Edwin Powell Hubble (1889-1953), được đặt trong một quỹ đạo cách Trái Đất khoảng 610 km. Đây là kính thiên văn phản xạ được trang bị hệ thống máy tính và một gương thu ánh sáng có đường kính 240 cm.

Kính thiên văn Hubble được nghiên cứu từ thập niên 1970 và phóng lên không gian năm 1990, đã tạo ra một bước đột phá quan trọng trong quan sát thiên văn trong phổ quang học, tử ngoạihồng ngoại cho thời kỳ này, nhờ vào ưu điểm là quan sát các thiên thể mà không bị ảnh hưởng bởi khí quyển Trái Đất.

Nó có thể thu nhận ánh sáng từ vật thể cách xa 12 tỉ năm ánh sáng. Nó lần đầu tiên sử dụng công nghệ Multi-Anode Microchannel Array (MAMA) để ghi nhận tia tử ngoại nhưng loại trừ ánh sáng. Nó có sai số trong định hướng nhỏ tương đương với việc chiếu một tia laser đến đúng vào một đồng xu cách đó 320 km và giữ yên như thế.

Việc thiết kế kính này theo dạng mô-đun cho phép các phi hành gia tháo gỡ, thay thế hoặc sửa chữa từng mảng bộ phận dù họ không có chuyên môn sâu về các thiết bị. Trong một lần sửa, độ phân giải của Hubble đã được tăng lên gấp 10.

Hubble cung cấp khoảng 5-10 GB dữ liệu một ngày. Vài khám phá quan trọng do Hubble mang lại gồm có:

Một số hình ảnh chụp từ Kính thiên văn vũ trụ Hubble:

Theo kế hoạch của NASA, kính Hubble sẽ ngừng hoạt động vào năm 2014. Hiện nay, tàu con thoi Atlantis đã sửa chữa thành công để nâng cấp cho Hubble hoạt động lâu hơn và hình ảnh chuẩn hơn. Thay thế nó là kính thiên văn vũ trụ James Webb.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ HST Program Office. "Hubble Facts: HST Orbit Decay and Shuttle Re-boost" (.PDF). Goddard Space Flight Center. Truy cập ngày 2009-05-12.
  2. ^ Amiko Kauderer (26 tháng 3 năm 2009). “Space Shuttle Mission Overview — STS-125: The Final Visit”. NASA. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009. 
  3. ^ SYNPHOT User's Guide, version 5.0, Space Telescope Science Institute, p. 27

Phương tiện liên quan tới Hubble Space Telescope tại Wikimedia Commons Phương tiện liên quan tới Ảnh chụp từ Hubble tại Wikimedia Commons