Kongō (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
JS Myōkō at Pearl Harbor, -27 Jun. 2012 a.jpg
Myōkō (DDG-175), Trân Châu Cảng, năm 2012
Khái quát về lớp tàu
Xưởng đóng tàu: Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi
Tổng công ty công nghiệp nặng Ishikawajima - Harima
Bên sử dụng: Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF)
Lớp trước: Tàu khu trục lớp Hatakaze
Lớp sau: Tàu khu trục lớp Atago
Thời gian đóng: 1990 - 1998
Hoàn tất: 4
Còn hoạt động: 4
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu khu trục tên lửa lớp Kongō
Trọng tải choán nước: 7,500 tấn tiêu chuẩn
9,500 tấn đầy tải
Độ dài: 528.2 ft (161 m)
Sườn ngang: 68.9 ft (21 m)
Mớn nước: 20.3 ft (6.2 m)
Động cơ đẩy: Hệ thống động lực kết hợp tuabin khí COGAG 4 động cơ tuabin khí Ishikawajima Harima cung cấp lực đẩy cho 2 chân vịt với tổng công suất 100.000 mã lực.
Tốc độ: 30 knots (56 km/h)
Tầm xa: 4,500 nautical miles at 20 knots
(8,334 km at 37 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
300
Vũ trang: RGM-84 Harpoon SSM
SM-2MR Standard SAM (29 cells at the bow, 61 cell at the aft)
SM-3 Block IA ABM
RUM-139 Vertical Launch ASROC
• 1 x 5 inch (127 mm) / 54 caliber Oto-Breda Compact Gun
• 2 x 20 mm Phalanx CIWS
• 2 x Type 68 triple torpedo tubes (6 x Mk-46 or Type 73 torpedoes)
Máy bay mang theo: Phần boong tàu phía sau đủ chỗ cho 2 trực thăng chống ngầm hoạt động nhưng không có nhà chứa cho trực thăng.
Kongō (DDG-173) ở Trân Châu Cảng.

Tàu khu trục lớp Kongō (tiếng Nhật: こんごう型護衛艦) là lớp tàu khu trục tên lửa kiểu Aegis đầu tiên của Nhật Bản và cũng là lớp tàu Aegis đầu tiên ngoài nước Mỹ. Tàu khu trục Aegis lớp Kongo là sản phẩm của Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi và Tổng công ty công nghiệp nặng Ishikawajima - Harima đóng cho Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF). Chiếc đầu tiên mang số hiệu JDS Kongo DDG-173 được khởi đóng vào tháng 5/1990, đưa vào sử dụng tháng 3/1993. 

Kirishima (DDG-174), năm 1998.
Chōkai (DDG-176).

Sự có mặt của tàu khu trục lớp Kongo đưa quân phòng vệ mặt biển Nhật Bản (JMSDF) trở thành lực lượng đầu tiên ở châu Á sở hữu tàu khu trục mang tên lửa điều khiển “đẳng cấp” nhất châu Á cho đến thời điểm hiện tại. Tàu khu trục lớp Kongo là một tàu khu trục đa năng, nhiệm vụ chính của nó là phòng không, săn ngầm và chống tàu chiến mặt nước của đối phương. Ngoài ra, tàu cũng được thiết kế khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo chiến thuật. Tàu khu trục lớp Sejong cũng có thể tham gia thực hiện nhiều nhiệm vụ thông thường khác, như đảm bảo an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu hộ, hộ tống, đổ bộ và vận tải… 

Mỹ và Nhật Bản đã rất khó khăn mới đạt thỏa thuận chuyển giao cho Nhật Bản công nghệ Aegis. Sau 4 năm đàm phán, năm 1988, Quốc hội Mỹ đã chấp thuận và Nhật trở thành quốc gia đồng minh đầu tiên của Mỹ được tiếp cận công nghệ mật này. Tàu đầu tiên bắt đầu được Nhật đóng hai năm sau đó, vào tháng 3/1990. Giai đoạn 1992-1998, 3 chiếc tiếp theo đã được phía Nhật đóng mới và đưa vào sử dụng với số hiệu lần lượt  JDS Kirishima DDG-174, JDS Myoko DDG-175, JDS Chokai DDG-176. Cả 4 tàu của Nhật đều được đặt theo tên các tàu tuần dương lừng danh của Hạm đội Thiên hoàng từng tham gia Thế chiến II.

Tàu khu trục lớp Kongo là một thiết kế sửa đổi từ lớp tàu khu trục Arleigh Burke đời đầu (Flight I) của Hải quân Mỹ. Tuy dựa trên thiết kế cơ sở là tàu khu trục lớp Arleigh Burke, nhưng biến thể của Nhật khác nhiều mẫu cơ sở cả về thiết kế bên trong, lẫn ngoại hình. Tàu có cột buồm thẳng đứng thay vì hơi nghiêng ra phía sau như tàu khu trục lớp Arleigh Burke. Cấu trúc thượng tầng của tàu dẹp cao và vát hơn so với nguyên mẫu. Khác với hàng chục tàu khu trục lớp Arleigh Burke “hàng chợ” của Mỹ, người Nhật đã quyết định trang bị cho 4 tàu khu trục hiện đại nhất của mình những trang thiết bị đa dạng, biến chúng thành các tàu chiến đa năng. Tàu được chế tạo toàn bộ bằng thép với khả năng tàng hình nhẹ, ở lớp vỏ tàu có thêm lớp giáp kevlar nặng tới 70 tấn. Thân tàu được thiết kế đảm bảo khả năng giảm tín hiệu hồng ngoại đồng thời giảm diện tích phản xạ radar. Ngoài ra, tàu khu trục lớp Kongo còn được đánh giá là có khả năng sống sót cao, bảo vệ thủy thủ đoàn trước cuộc tấn công sinh – hóa học. 

Sàn đáp trực thăng phía sau được kéo dài hơn, điều này dẫn đến tàu có chiều dài hơn so với các tàu khu trục khác, tải trọng của tàu đạt gần bằng tải trọng của tàu tuần dương nếu xét theo tiêu chuẩn NATO. 

Tàu khu trục Aegis lớp Kongo có tải trọng đầy tải tới 9.500 tấn, tàu dài 161m, rộng 21m, mớn nước 6,2m. Do tải trọng và kích thước quá lớn nên tàu khu trục này không có khả năng hoạt động tác chiến tại các khu vực gần bờ. [1] Thủy thủ đoàn của tàu có khoảng 350 quân nhân.

Hệ thống chiến đấu Aegis (AWS)[sửa | sửa mã nguồn]

Aegis là viết tắt của cụm từ Airbonne Early-waring Ground Intergration Segment (Bộ phận hợp nhất thông tin cảnh báo sớm đường không trên mặt đất). Đây là hệ thống chiến đấu công nghệ cao tích hợp bao gồm: hệ thống radar Aegis; hệ thống vũ khí Aegis và hệ thống dữ liệu chiến đấu và kiểm soát Aegis.

Nói chung Aegis là một khái niệm công nghệ phát hiện, theo dõi, tấn công mục tiêu cực kỳ phức tạp. Đến nay, Aegis vẫn là hệ thống chiến đấu có 1-0-2 trên thế giới. 

“Trái tim” của hệ thống chiến đấu trên tàu khu trục Aegis Kongo là radar quét mạng pha điện tử chủ động AN/SPY-1D được sản xuất bởi hãng Lockheed Martin, hoạt động trên băng tần S (3,1 - 3,5 GHz). Kết cấu của AN/SPY-1D gồm 4 mảng radar, mỗi mảng có khả năng theo dõi tới 200 mục tiêu, bao quát đủ 360 độ quanh tàu giúp cho việc trinh sát được liên tục, không bị ngắt quãng. Theo thông tin từ trang tin Mostlymissiledefense, radar SPY-1D có khả năng phát hiện mục tiêu kích cỡ bằng quả bóng golf ở cự ly tới 165km, phát hiện mục tiêu tên lửa đạn đạo ở cự ly tối đa 310km. 

Trong năm 2007, hãng Lockheed Martin đã nhận được hợp đồng trị giá 124 triệu USD để nâng cấp khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo cho 4 tàu khu trục lớp Kongo của Hải quân Nhật Bản, 3 chiếc đã được nâng cấp. Dự kiến chiếc cuối cùng sẽ được hoàn thành nâng cấp vào năm 2010.  

Bốn tàu khu trục Aegis lớp Kongo sẽ kết hợp cùng với các tàu Aegis của Mỹ trong khu vực châu Á tạo nên thế trận phòng thủ tên lửa đạn đạo chung giữa 2 nước.  

Ngoài ra, tàu còn được trang bị hệ thống chiến tranh điện tử toàn diện, hệ thống định vị thủy âm hiện đại cho nhiệm vụ chiến tranh chống ngầm. Và hệ thống liên kết dữ liệu đa kênh cho phép cập nhật các thông tin tình báo từ hệ thống vệ tinh của Mỹ. [1] Hệ thống radar cùa tàu mặc dù rất hiện đại nhưng lại kém hiệu quả khi hoạt động tác chiến tại các khu vực lộn xộn gần bờ.  

Hệ thống vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục Aegis lớp Kongo được trang bị các hệ thống vũ khí đa năng cho phép tiến công tiêu diệt mọi mục tiêu trên không (kể cả tên lửa đạn đạo), trên biển.

Trong đó, hệ thống vũ khí làm nên sức mạnh phòng thủ chống tên lửa đạn đạo của Aegis lớp Kongo ở các loại tên lửa tầm xa SM-2/SM-3 chứa trong hệ thống ống phóng thẳng đứng MK-41 (29 ống phía trước và 61 ống phía sau). 

Ban đầu, Aegis Kongo trang bị đạn tên lửa phòng không SM-2MR có khả năng tiêu diệt máy bay ở tầm xa 170km, độ cao 24.400m, tốc độ hành trình Mach 3,5. 

Tàu khu trục lớp Kongo bắn thử nghiệm tên lửa đánh chặn SM-3, ngày 18 tháng 12 năm 2007.

Chương trình nâng cấp gần đây cho phép lớp tàu Kongo sử dụng tên lửa đánh chặn siêu hạng SM-3 với tầm bắn lên đến 500km và tầm cao tới 160km. Tên lửa SM-3 có khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo ở ngoài bầu khí quyển 

MK41 còn được sử dụng để phóng tên lửa chống tàu ngầm RUM-139 VL-ASROC có tầm bắn 22 km. Trong tác chiến chống ngầm, tàu còn được trang bị 2 cụm (3 ống/cụm) ống phóng ngư lôi loại Type-68 sử dụng ngư lôi hạng nặng Mk46 (cơ số ngư lôi trên tàu lên đến 73 quả).

Ngoài hệ thống vũ khí đặt trong ống phóng MK41, Aegis Kongo còn trang bị: pháo hạm 127 mm của công ty OTO Breda (Italia) được lắp thay cho khẩu pháo Mỹ Mk.45, pháo có tầm bắn 30km; 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx 6 nòng cỡ 20mm; 8 tên lửa hành trình chống tàu RGM-84 Harpoon tầm bắn 124km. 

Tuy nhiên, điều có phần thiếu sót về vũ khí đối với lớp tàu này không được trang bị tên lửa hành trình tấn công mặt đất kiểu như Tomahawk. Phần boong tàu phía sau đủ chỗ cho 2 trực thăng chống ngầm hoạt động nhưng không có nhà chứa cho trực thăng.[1]

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục Aegis lớp Kongo được trang bị hệ thống động lực kết hợp tuabin khí COGAG (tức là kiểu hệ thống động cơ kết hợp 2 tuabin khí để quay một chân vịt), 4 động cơ tuabin khí  Ishikawajima Harima cung cấp lực đẩy cho 2 chân vịt với tổng công suất 100.000 mã lực.

Hệ thống động lực này giúp tàu đạt tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ (khoảng 54km/h) phạm vi hoạt động 4.500 hải lý. [1]

Số hiệu Tên Đặt lườn Hạ thủy Đưa vào biên chế Đơn vị
DDG-173 Kongō 8 tháng 5 năm 1990 26 tháng 9 năm 1991 25 tháng 3 năm 1993 Hải đội hộ vệ số 5
DDG-174 Kirishima 7 tháng 4 năm 1992 19 tháng 8 năm 1993 16 tháng 3 năm 1995 Hải đội hộ vệ số 8
DDG-175 Myōkō 8 tháng 4 năm 1993 5 tháng 10 năm 1994 14 tháng 3 năm 1996 Hải đội hộ vệ số 7
DDG-176 Chōkai 29 tháng 5 năm 1995 27 tháng 8 năm 1996 20 tháng 3 năm 1998 Hải đội hộ vệ số 6

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]