Kongō (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ashigara&Mt.Inasa&Mitsubisi.JPG
JDS Ashigara (DDG-178) và JDS Kongō (DDG-173), Nagasaki, năm 2007.
Khái quát về lớp tàu
Xưởng đóng tàu: Ishikawajima Harima Heavy Industries
Mitsubishi Heavy Industries
Bên sử dụng: Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF)
Lớp trước: Tàu khu trục lớp Hatakaze
Lớp sau: Tàu khu trục lớp Atago
Thời gian đóng: 1990 - 1998
Hoàn tất: 4
Còn hoạt động: 4
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu khu trục tên lửa
Trọng tải choán nước: 7,500 tấn (tiêu chuẩn)
9,500 tấn (đầy tải)
Độ dài: 161 m
Sườn ngang: 21 m
Mớn nước: 6.2 m
Động cơ đẩy:

4 × động cơ tuabin khí Ishikawajima Harima LM-2500

100.000 shp
Tốc độ: 30 hải lý/giờ (56 km/h)
Tầm xa: 4,500 hải lý
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
300
Vũ trang: RGM-84 Harpoon SSM
SM-2MR Standard SAM 29 phía trước và 61 phía sau)
SM-3 Block IA ABM
RUM-139 VL ASROC
• 1 x pháo hạm 127mm Oto-Breda Compact Gun
• 2 x 20 mm Phalanx CIWS
• 2 x cụm phóng ngư lôi Type 68 (6 x ngư lôi Mk-46 hoặc ngư lôi Type 73)
Máy bay mang theo: Phần boong tàu phía sau đủ chỗ cho 2 trực thăng săn ngầm hoạt động nhưng không có nhà chứa cho trực thăng.

Tàu khu trục lớp Kongō (tiếng Nhật: こんごう型護衛艦) là lớp tàu khu trục tên lửa kiểu Aegis đầu tiên của Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) và cũng là lớp tàu Aegis đầu tiên được chế tạo bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Dự án đóng mới tàu khu trục lớp Kongo do Nhà máy đóng tàu Tokyo số 1 của Ishikawajima Harima Heavy Industries và Nhà máy đóng tàu Nagasaki của Mitsubishi Heavy Industries đảm nhiệm.   

Chính phủ Nhật Bản đã rất khó khăn mới có thể đạt được thỏa thuận với Hoa Kỳ trong việc chuyển giao cho Nhật Bản công nghệ Aegis. Sau 4 năm đàm phán, năm 1988, một đạo luật đã được Quốc hội Mỹ thông qua cho phép Nhật Bản trở thành quốc gia đồng minh đầu tiên của Mỹ được tiếp cận công nghệ mật này. Chiếc đầu tiên mang số hiệu JDS Kongo DDG-173 đã được Nhật khởi đóng vào tháng 05 năm 1990 và được hạ thủy vào tháng 03 năm 1993. Trong giai đoạn 1992-1998, 3 chiếc tiếp theo cũng đã lần lượt được phía Nhật đóng mới và đưa vào sử dụng (JDS Kirishima DDG-174, JDS Myoko DDG-175, JDS Chokai DDG-176). Cả 4 tàu của Nhật đều được đặt theo tên các tàu tuần dương lừng danh của Hải quân Đế quốc Nhật Bản từng tham chiến trong Thế chiến II.[1] 

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục lớp Kongo là một thiết kế sửa đổi từ lớp tàu khu trục Arleigh Burke đời đầu (Flight I) của Hải quân Mỹ. Tuy dựa trên thiết kế cơ sở là tàu khu trục lớp Arleigh Burke, nhưng biến thể của Nhật khác nhiều mẫu cơ sở cả về thiết kế bên trong, lẫn ngoại hình. Tàu có cột buồm thẳng đứng thay vì hơi nghiêng ra phía sau như tàu khu trục lớp Arleigh Burke. Cấu trúc thượng tầng của tàu dẹp cao và vát hơn so với nguyên mẫu. Tàu được định dạng bằng 31 module chức năng khác nhau, giúp giảm thiểu tối đa thời gian sửa chữa và có thể dễ dàng thay thế các khoang bị phá hủy trong chiến đấu một cách nhanh chóng. Cấu tạo lớp vỏ hợp kim không bị ăn mòn của Kongo là sự kết hợp của sắt, crom và cả nhôm. Nhôm làm nhẹ thân tàu để có thể tăng tốc độ cho tàu. Lớp vỏ kiên cố gồm 2 lớp hợp kim, giữa 2 lớp này là 1 lớp rỗng giúp tăng khả năng sống sót của con tàu khi bị các tên lửa tấn công. Thân tàu được thiết kế đảm bảo khả năng giảm tín hiệu hồng ngoại đồng thời giảm diện tích phản xạ radar. Sàn đáp trực thăng phía sau được kéo dài hơn, điều này dẫn đến tàu có chiều dài hơn so với các tàu khu trục khác. Kongo là lớp tàu khu trục đầu tiên của Nhật có khả năng tham chiến trong mọi cuộc xung đột, kể cả là chiến tranh hạt nhân, sinh học thậm chí là hóa học. Bởi Kongo được trang bị hệ thống lọc không khí tiên tiến, hệ thống tự động tìm kiếm và khoanh vùng khu vực hỏng hóc hoặc tổn thất, tự động đóng cửa và nắp các khoang, khởi động máy bơm nước và hệ thống cứu hỏa tự động, cùng với đó là lớp vỏ có khả năng ngăn chặn các loại tia Alpha và Beta từ các vụ nổ hạt nhân. Ngoài ra, tàu còn có cả thiết bị lọc nước biển và hệ thống xử lý nước cho các thủy thủ trên tàu.  

Tàu khu trục lớp Kongo dài 161m, rộng 21m, mớn nước 6,2m, có tải trọng đầy tải tới 9.500 tấn, tải trọng của tàu đạt gần bằng tải trọng của tàu tuần dương nếu xét theo tiêu chuẩn NATO. Do tải trọng và kích thước quá lớn nên tàu khu trục này không có khả năng hoạt động tác chiến tại các khu vực gần bờ. Thủy thủ đoàn của tàu có khoảng 300 quân nhân.

Khác với hàng chục tàu khu trục lớp Arleigh Burke “hàng chợ” của Mỹ, người Nhật đã trang bị cho 4 tàu khu trục hiện đại nhất của mình những trang thiết bị đa dạng, biến chúng thành các tàu khu trục đa năng. Nhiệm vụ chính của tàu khu trục lớp Kongo là phòng không, săn ngầm và chống tàu chiến mặt nước của đối phương. Bởi vì vị trí địa lý của Nhật Bản gần với biên giới Trung Quốc, Triều TiênNga nên các tàu khu trục lớp Kongo cũng được thiết kế khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo chiến thuật. Ngoài ra, tàu còn có thể tham gia thực hiện nhiều nhiệm vụ thông thường khác, như đảm bảo an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu hộ, hộ tống, đổ bộ và vận tải...[1] [2]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh Số hiệu Tên Đặt lườn Hạ thủy Đưa vào biên chế Đơn vị
JS Kongō transits Pearl Harbor, -14 Dec. 2007 a.jpg DDG-173 Kongō 8 tháng 5 năm 1990 26 tháng 9 năm 1991 25 tháng 3 năm 1993 Hải đội hộ vệ số 5, Căn cứ hải quân Sasebo
JDS Kirishima - Kongou class destroyer.JPEG DDG-174 Kirishima 7 tháng 4 năm 1992 19 tháng 8 năm 1993 16 tháng 3 năm 1995 Hải đội hộ vệ số 8, Căn cứ hải quân Yokosuka
JS Myōkō at Pearl Harbor, -27 Jun. 2012 a.jpg DDG-175 Myōkō 8 tháng 4 năm 1993 5 tháng 10 năm 1994 14 tháng 3 năm 1996 Hải đội hộ vệ số 7, Căn cứ hải quân Maizuru
DDG-176 Choukai.jpg DDG-176 Chōkai 29 tháng 5 năm 1995 27 tháng 8 năm 1996 20 tháng 3 năm 1998 Hải đội hộ vệ số 6, Căn cứ hải quân Sasebo

Hệ thống chiến đấu Aegis (AWS)[sửa | sửa mã nguồn]

Aegis là viết tắt của cụm từ Airbonne Early-waring Ground Intergration Segment (Bộ phận hợp nhất thông tin cảnh báo sớm đường không trên mặt đất). Hệ thống Aegis được Lockheed Martin thiết kế và đưa vào sử dụng lần đầu đầu tiên từ năm 1987 trên tàu tuần dương Ticonderago, biến thể sử dụng trên các phiên bản tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Hoa Kỳ và các nước đồng minh được đưa vào sử dụng năm 1991. Hệ thống Aegis là một hệ thống công nghệ phát hiện, theo dõi, tấn công mục tiêu cực kỳ phức tạp. Đến nay, Aegis vẫn là hệ thống chiến đấu có 1-0-2 trên thế giới.

Radar quét mạng pha điện tử chủ động AN/SPY-1D trên tàu JDS Kirishima DDG-174

Radar AN/SPY-1D : “Trái tim” của hệ thống chiến đấu trên tàu khu trục Aegis Kongo là radar quét mạng pha điện tử chủ động AN/SPY-1D được sản xuất bởi Lockheed Martin, hoạt động trên băng tần S (3,1 - 3,5 GHz). Kết cấu của AN/SPY-1D gồm 4 mảng radar được thiết kế xung quanh tháp chỉ huy bao quát đủ 360 độ quanh tàu giúp cho việc trinh sát được liên tục, không bị ngắt quãng, cung cấp kênh dẫn hướng pha giữa cho tên lửa đánh chặn SM-2/SM-3. Với công suất phát 4MW, mỗi mảng có khả năng bắt, bám và dẫn tên lửa đánh hơn 200 mục tiêu, nhưng thực tế chỉ có thể đánh cùng lúc 4 do hạn chế về thống điều khiển hoả lực. Radar SPY-1D có khả năng phát hiện mục tiêu kích cỡ bằng quả bóng golf ở cự ly tới 165km, phát hiện mục tiêu tên lửa đạn đạo ở cự ly tối đa 310km. 

Trong năm 2007, tập đoàn Lockheed Martin đã nhận được hợp đồng trị giá 124 triệu USD để nâng cấp khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo cho 4 tàu khu trục lớp Kongo của JMSDF. Toàn bộ chương trình nâng cấp đã được phía Lockheed Martin hoàn tất vào năm 2010.    

Hệ thống chỉ huy và quyết định (C&D) : là hệ thống máy tính cực mạnh, phối hợp và kiểm soát một loạt hoạt động phức tạp của hệ thống Aegis.    

Hệ thống kiểm soát và điều khiển vũ khí (WCS) : kiểm soát trạng thái của tất cả các hệ thống vũ khí được dùng cho hệ thống Aegis.    

Hệ thống kiểm soát bắn (FCS) Mk-99 : cung cấp kênh dẫn hướng cho tên lửa đã được radar AN/SPY-1 chiếu xạ. FCS gồm 3 hệ thống radar AN/SPG-62A hoạt động trên băng tần J, hệ thống cho phép chiếu xạ mục tiêu dẫn đường pha cuối cho tên lửa đánh chặn SM-2/SM-3. Tàu có 4 anten có thể cùng lúc dẫn tên lửa đánh 4 mục tiêu.    

Radar chiếu xạ mục tiêu AN/SPG-62

Hệ thống hiển thị Aegis ADS : là máy tính điều khiển cung cấp hiển thị các hình ảnh phức tạp khác nhau về môi trường chiến thuật. Hệ thống được hiển thị dưới dạng hình ảnh mô phỏng đồ họa. Với ADS, thuyền trưởng có thể quan sát và kiểm soát tình trạng hệ thống như môi trường xung quanh, hệ thống vũ khí và tình huống chiến tranh cụ thể. Sau khi nhập dữ liệu hệ thống sẽ tự động hiển thị thông tin về vị trí của tàu và các hệ thống liên quan. ADS được cập nhật thông tin từ hệ thống C&D.    

Hệ thống hoạt động thử nghiệm ORTS : là hệ thống giám sát và thử nghiệm điều khiển máy tính,tên có khả năng phát hiện các lỗi, cách ly, theo dõi tình trạng và cấu hình lại hệ thống. ORTS tự động đánh giá và hiển thị mức cao nhất các tác động đến hệ thống. Thông qua bàn phím, thủy thủ đoàn có thể bắt đầu thử nghiệm, đánh giá hiệu năng của hệ thống, tải các chương trình hay ứng dụng mới vào máy tính của Aegis. ORTS được thiết kế nhằm kiểm soát tất cả các lỗi có thể xảy đối với hệ thống đảm bảo cho hệ thống vận hành một cách chính xác nhất.

Hệ thống đào tạo Aegis : cho phép các binh sĩ trên tàu khu trục lớp Kongo thực hiện đào tạo thông qua các kịch bản chiến tranh. Hệ thống có khả năng ghi lại các tình huống, các sự kiện cụ thể cho việc tự đánh giá.[3]

Cảm biến/radar[sửa | sửa mã nguồn]

  

Các bộ cảm biến trên tàu bao gồm radar tìm kiếm mục tiêu mặt nước JRC OPS-28-D (tương tự radar tìm kiếm Mk-32 của Mỹ), radar dẫn đường OPS-20 và radar điều khiển hỏa lực FCS-2-21A do Nhật tự sản xuất dùng để dẫn bắn cho pháo hạm 127 mm TanSo-ho.  

Hệ thống thông tin liên lạc trên tàu được kiểm soát bởi hệ thống liên lạc vệ tinh SATCOM, hệ thống liên kết dữ liệu Link-16, hệ thống anten vệ tinh Superbird và các đài radio UHF, VHF và HF. Toàn bộ các hệ thống điện tử trên tàu được kết nối với nhau thông qua mạng diện rộng NOYQ-1B cho phép thực hiện việc kết nối thông tin trên tàu với tốc độ cao.    

Ngoài ra, tàu còn được trang bị hệ thống chiến tranh điện tử NOLQ-2 ECM có tính năng tương đương loại SLQ-32 do Mỹ sản xuất và hệ thống kiểm soát tác chiến chống ngầm OYQ-102 ASWCS cho nhiệm vụ chiến tranh chống ngầm.   

Hệ thống chiến tranh điện tử NOLQ-2 ECM kết hợp thiết bị phóng mồi bẫy Mk-137 SRBOC dùng để dò tìm tín hiệu vô tuyến phát từ radar tàu và tên lửa đối phương, đồng thời phát tín hiệu gây nhiễu gây khó khăn cho đối phương trong việc phát hiện và tấn công tàu.  

Hệ thống kiểm soát tác chiến chống ngầm OYQ-102 ASWCS bao gồm các hệ thống sonar kiểu mảng kéo OQR-2 TASS, radar ORQ-1 liên kết dữ liệu với trực thăng săn ngầm SH-60J/K và sonar OQS-102 được gắn cố định trong quả cầu hình giọt nước ở mũi tàu .  

Hệ thống radar cùa tàu mặc dù rất hiện đại nhưng lại kém hiệu quả khi hoạt động tác chiến tại các khu vực lộn xộn gần bờ (tức là các mục tiêu nằm giữa các khu vực vừa có mặt đất, mặt nước, núi đồi…).[4] [2] [5]  

Tàu khu trục JDS Kongo DDG-173 phóng thử nghiệm tên lửa đánh chặn RIM-161 Standard SM-3 block 1A ABM, đảo Kauai, Hawaii, ngày 18 tháng 12 năm 2007

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tác chiến với các mục tiêu trên không, tàu khu trục lớp Kongo được trang bị hệ thống phóng thẳng đứng Mk41 với 29 ống phía trước và 61 ống phía sau. Ban đầu, tàu được trang bị các tên lửa đánh chặn RIM-156 Standard SM-2ER Block 3A có khả năng tiêu diệt các loại máy bay của kẻ thù ở tầm xa 240km, độ cao 33km, tốc độ hành trình Mach 3,5.  

RIM-156 Standard SM-2ER Block IIIA do tập đoàn Raytheon nghiên cứu phát triển và đưa vào sử dụng trong những năm 1990. RIM-156 được trang bị một động cơ phụ tăng cường lực đẩy Mk-72 ứng dụng hệ thống kiểm soát lực đẩy vector để điều chỉnh đường bay và không có vây ổn định. Tên lửa SM-2 được dẫn đường qua 3 giai đoạn, giai đoạn bằng quán tính, giai đoạn giữa thông qua radar AN/SPY-1, giai đoạn cuối dẫn bằng radar bán chủ động..  

Ống phóng tên lửa hành trình chống hạm RGM-84 Harpoon.

Chương trình nâng cấp giai đoạn 2007-2010 cho phép lớp tàu Kongo sử dụng tên lửa đánh chặn siêu hạng RIM-161 Standard SM-3 Block 1A ABM. Về cơ bản SM-3 sử dụng chung động cơ đẩy phụ Mk-72 như SM-2. Tuy nhiên, SM-3 được trang bị thêm một tầng đẩy thứ 3 Mk136, hay còn gọi là tầng đẩy tăng cường thay vì chỉ có 2 tầng đẩy như SM-2ER. Tầng đẩy tăng cường Mk136 được phát triển bởi công ty hàng không vũ trụ Alliant Techsystems Inc của Mỹ thường được gọi tắt là ATK. Tầng đẩy tăng cường giúp tên lửa SM-3 có thể vô hiệu hóa các mục tiêu là tên lửa đạn đạo liên lục địa ở phạm vi tới 500km và ở độ cao tới 160km. Với tầm bắn này, tên lửa SM-3 được chuyên dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt các tên lửa đạn đạo ở ngoài bầu khí quyển của trái đất.

Cơ cấu hoạt động của SM-3 chia làm 4 giai đoạn. Giai đoạn đầu tên lửa sẽ được đưa ra khỏi ống phóng Mk-41 bằng tầng đẩy phụ Mk72. Tên lửa thiết lập các thông số liên lạc với tàu Kongo. Giai đoạn này tên lửa được dẫn hướng bằng quán tính.Giai đoạn thứ 2 tên lửa tách bỏ tầng đẩy phụ Mk72 và kích hoạt động cơ tên lửa nhiên liệu rắn lực đẩy kép Mk104. Giai đoạn này tên lửa được dẫn hướng thông qua radar AN/SPY-1 của tàu phóng với sự hỗ trợ của hệ thống GPS. Giai đoạn thứ 3, tên lửa tách bỏ phần còn lại của động cơ đẩy và kích hoạt động cơ đẩy tăng cường Mk136. Động cơ đẩy tăng cường sẽ giúp tên lửa SM-3 vượt ra ngoài tầng khí quyển. Động cơ đẩy tăng cường Mk136 sẽ cung cấp lực đẩy cho tên lửa trong khoảng 30 giây trước khi tiếp cận mục tiêu.Giai đoạn thứ 4, tên lửa tách bỏ tầng đẩy tăng cường và kích hoạt hệ thống LEAP, một modun chuyên dụng để đánh chặn tên lửa bên ngoài bầu khí quyển. LEAP bao gồm một đầu đạn không thuốc nổ, được thiết kế với công nghệ “hit-to-kill” truy đuổi và tiêu diệt.

LEAP sẽ tự động tìm kiếm mục tiêu thông qua các dữ liệu được hệ thống Aegis của tàu phóng cung cấp. Để làm được điều này, LEAP sử dụng một cảm biến hồng ngoại FWIR cùng radar bán chủ động để xác định mục tiêu.LEAP được trang bị một đầu đạn Kinetic Warhead (KW) thuộc dạng đầu đạn động năng (dùng động lực để phá hủy mục tiêu thay vì sức nổ). Theo tính toán, động  năng của vụ va chạm có thể đạt 130 Jun, tương đương với 31kg TNT. LEAP được ứng dụng các thuật toán so sánh tiên tiến, cho phép nó xác định mục tiêu của nó là đầu đạn tên lửa hay mảnh vụn tách ra từ tên lửa mục tiêu. SM-3 đã chứng minh  khả năng phân biệt mục tiêu trong mớ hỗn độn này. Sự kết hợp của hệ thống cảm biến hồng ngoại FWIR và hệ thống radar AN/SPY1 của hệ thống Aegis đã nâng cao khả năng nhận biết mục tiêu của tên lửa SM-3.

Trong tác chiến chống ngầm, tàu được trang bị tên lửa chống tàu ngầm RUM-139 VL-ASROC. Các tên lửa này cũng được triển khai tác chiến bằng hệ thống phóng thẳng đứng Mk41. Đây là loại tên lửa chống ngầm nhiên liệu rắn 2 giai đoạn, tên lửa được dẫn hướng bằng quán tính đến khu vực có mục tiêu tàu ngầm. Điểm mạnh của tên lửa này là sử dụng tốc độ cao của tên lửa để nhanh chóng tiêu diệt tàu ngầm khi nó bị phát hiện. RUM-139 VL ASROC có tầm bắn 22 km, nó thường sử dụng cơ chế bắn loạt nhiều tên lửa về phía khu vực có tàu ngầm nên xác suất tiêu diệt mục tiêu rất cao.

Trong tác chiến chống hạm, vũ khí chủ lực của tàu khu trục Kongo là 8 tên lửa hành trình chống hạm RGM-84 Harpoon do tập đoàn Boeing (Mỹ) phát triển. RGM-84 mang nhiều lợi thế của dòng tên lửa cận âm, bay bám mặt biển, khó bị phát hiện. RGM-84 Harpoon có chiều dài 4,64m, đường kính thân 0,34m, trọng lượng khi phóng 682kg. RGM-84 trang bị hai động cơ, động cơ rocket nhiên liệu rắn hoạt động trong giai đoạn phóng, khi tên lửa đạt trạng thái ổn định, hết nhiên liệu động cơ sẽ tự tách bỏ. Ở giai đoạn bay chính tên lửa dùng động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy. Hệ thống dẫn đường quán tính (INS) sẽ hướng dẫn tên lửa trong pha giữa, radar chủ động sẽ hoạt động ở pha cuối. RGM-84 lắp đầu đạn thuốc nổ mạnh nặng 222kg, tầm bắn xa 130km.[2] [4] 

Pháo hạm 127mm TanSo-ho.

Pháo hạm[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo chính của tàu là pháo hạm 127 mm TanSo-ho do Nhật sản xuất theo giấy phép của công ty OTO Breda, Italia. Pháo có chức năng tiêu diệt các mục tiêu mặt nước, các mục tiêu bay và pháo kích bờ biển. Pháo có tầm bắn là 38km và có khả năng đạt đến 50km với đạn pháo tăng tầm, tốc độ bắn 40 phát/phút.

Hoả lực phòng không tầm gần (CIWS) của tàu là hệ thống Mk-15 Phalanx. Mk-15 Phalanx là tổ hợp khép kín tích hợp bao gồm pháo, đạn và radar lắp trên 1 bệ duy nhất. Hệ thống được General Dynamics nay là Raytheon Systems phát triển vào cuối những năm 1960. Hệ thống Phalanx gồm pháo 6 nòng bắn nhanh Gatling M61A1 Vulcan có tốc độ bắn 4.500 phát/phút cùng một radar hoạt động trên băng tầng K. Trong điều kiện chiến đấu, radar sẽ rà soát bầu trời, xác định các mục tiêu và lọc ra mục tiêu nguy hiểm nhất. Sau khi xác định được mục tiêu, radar điều khiển hỏa lực sẽ tính toán chính xác vị trí của địch để pháo 6 nòng Gatling M61A1 Vulcan, với khả năng bắn đạn đường kính 20 mm và tốc độ 4.500 viên/phút, khai hỏa. Radar của hệ thống Phalanx CIWS được chế tạo theo công nghệ chỉ điểm khép kín, có khả năng tìm kiếm, phát hiện, đánh giá, bám bắt và giao chiến hoàn toàn tự động. Bên cạnh đó, pháo Gatling M61A1 Vulcan còn có khả năng bắn nhiều loại đạn - bao gồm đạn xuyên giáp vỏ tự huỷ (APDS) 20 mm sử dụng đầu xuyên 15 mm bằng kim loại nặng (vonfram hoặc uran nghèo) được bao quanh bằng một guốc đạn plastic và một phần đáy kim loại nhẹ. Khi lọt vào tầm bắn của Phalanx CIWS, mọi mục tiêu - từ máy bay, tên lửa, bom hay đạn pháo - đều không thể thoát. Hoạt động hoàn toàn tự động dưới sự giám sát của con người, Phalanx CIWS có thể tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách 3,6 km. Trong một số điều kiện tác chiến, hệ thống Phalanx CIWS có thể bắn hạ các mục tiêu trên mặt nước, bao gồm các chiến hạm của đối phương. Tuy nhiên, tầm hoạt động cực ngắn khiến hệ thống Phalanx CIWS phát huy hiệu quả cao nhất với các mục tiêu trên không.[2] [4] 

Ngư lôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục Kongo được trang bị 2 cụm phóng ngư lôi với 3 ống phóng 324mm Type 68 sử dụng ngư lôi Mk46 Mok 5. Đây là một loại ngư lôi động cơ điện dẫn hướng âm thanh thụ động có cỡ đạn 324mm, chiều dài 2,6m, khối lượng 235 kg, đầu đạn 45 kg, tầm bắn 11 km, tốc độ 74 km/h, ngư lôi có độ sâu hoạt động 365 mét. Ngoài ra, tàu cũng có thể sử dụng ngư lôi Type 73 do Nhật tự phát triển.[4]

Sàn đáp trực thăng của tàu khu trục JDS Kirishima DDG-174.

Trực thăng săn ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần boong tàu phía sau đủ chỗ cho 2 trực thăng săn ngầm SH-60J/K hoạt động nhưng không có nhà chứa và các trang thiết bị bảo dưỡng cho trực thăng.[2]

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục lớp Kongo được trang bị hệ thống động lực kết hợp tuabin khí COGAG (tức là kiểu hệ thống động cơ kết hợp 2 tuabin khí để quay một chân vịt), 4 động cơ tuabin khí  Ishikawajima Harima LM2500 (sản xuất theo giấy phép của General Electric) cung cấp lực đẩy cho 2 chân vịt với tổng công suất 100.000 mã lực.

Hệ thống động lực này giúp tàu đạt tốc độ tối đa  khoảng 30 hải lý/h (56 km/h) phạm vi hoạt động 4.500 hải lý.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]