Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hailịch sử Nhật Bản mà các thực thể chính trị là "Nhật Bản Quốc" (日本国). Tên thường gặp là "Thời hậu chiến Nhật Bản" (戦後日本) hay "Sau WW2 Nhật Bản" (二戦後日本).

Giai đoạn này là từ ngày 2 tháng 9 1945 cho hiện tại, nó đã bắt đầu với việc ký kết Tuyên bố Potsdam.

Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghề nghiệp của GHQ[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng cách ký Tuyên bố Potsdam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, sự chiếm đóng của GHQ bắt đầu, Đế quốc Nhật Bản (大日本帝国) đã được giải thể. Triều Tiên được chia hai và được chiếm đóng bởi Hoa KỳLiên Xô. Quần đảo Ryukyu và vùng biển phía Nam đã do Hoa Kỳ quản lý, Đài Loan được đưa vào trong bản đồ của Trung Hoa Dân Quốc, vùng Sakhalin thuộc vào lãnh thổ Liên Xô.

Thời gian chiếm đóng GHQ được gọi là "sự nhầm lẫn sau chiến tranh" (戦後混乱期), Nhật Bản đã được cai trị bởi các chính phủ nước ngoài tại thời điểm đầu tiên.

Lúc đầu, GHQ cho phép bầu cử dân chủ đầu tiên, chẳng hạn như khởi động và chạy được các lái xe. Kể từ 3 tháng 5 năm 1947, hiến pháp mới mà viết "chủ quyền của người dân" và "tự do ngôn luận và suy nghĩ", được ban hành, Đế quốc Nhật Bản đã giải tán một cách hợp pháp.

Các chính trị gia và các cựu quân nhân của Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới II đã bị xử trong Toà án Tokyo, bảy người đã bị tuyên án là tội phạm chiến tranh A-class. Trước khi điễn ra Tòa án Tokyo, có một vài chính trị gia đã tự tử, như là Fumimaro Konoe (Mất: 16 tháng 12 năm 1945).

Các chính trị gia tối cao của Phe Trục: Adolf Hitler tự sát (Mất: 30 tháng 4 năm 1945), Victor Emmanuel III đã bị truất ngôi và bị đày (9 tháng 5 năm 1946).

Tuy nhiên, chính trị gia tối cao nhất của cựu Đế quốc Nhật Bản - Thiên hoàng Hirohito đã không bị truất ngôi. Ông thoát khỏi Toà án Tokyo và vẫn giữ được ngôi vị của mình hầu như là nhờ vào lòng thương xót của Douglas MacArthur.

Sau khi xử tử bảy tội phạm chiến tranh A-class, các chính trị gia của cựu Đế quốc Nhật Bản đã được tha bổng sau khi tham gia vào các "khóa học đảo ngược". Chính sách này được thực hiện đối với Nhật Bản như là "cơ sở của Chủ nghĩa chống cộng".

Ngày 25 tháng 6 năm 1950, khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Nhật Bản đã trở thành hậu cần cho quân đội Mỹ. Và, 8 tháng 9 năm 1951, Liên minh Hiệp ước "Hiệp ước San Francisco" và quan hệ Mỹ-Nhật lần đầu tiên đã được ký kết và xác nhận, nó có hiệu lực từ ngày 28 tháng 4 năm 1952. Hiệu lực của Hiệp ước San Francisco đã kết thúc sự chiếm đóng của GHQ.

Chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hiệp ước San Francisco enterd có hiệu lực, Nhật Bản đã trở thành một nước có chủ quyền chính thức. Tuy nhiên, do Hiệp ước Liên minh Mỹ-Nhật Bản lần thứ nhất, các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ đã rời Nhật Bản. Sau khi GHQ chiếm đóng, Nhật Bản chịu sự ảnh hưởng của quân đội Hoa Kỳ.

Ngày 15 tháng 11 năm 1955, Đảng Dân chủ Tự do đã được thành lập, các "Hệ thống của năm 1955" được thành lập. "Hệ thống của năm 1955" là sự thống trị của hai đảng chính, Đảng Dân chủ Tự do và Đảng Xã hội Nhật Bản. Nhưng, Đảng Dân chủ Tự do là "chế độ đời đời", Đảng Xã hội Nhật Bản là "vĩnh cửu đối lập". "Hệ thống của năm 1955" kéo dài trên 38 năm cho đến năm 1993, sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.

Ngày 19 tháng 1 năm 1960, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower và Thủ tướng Nobusuke Kishi đã thỏa thuận các khoản trong Hiệp ước Liên minh Mỹ-Nhật Bản lần thứ hai. Họ từng là hai kẻ thù trong Chiến tranh Thế giới 2, tuy nhiên giờ đây họ đã quay sang bắt tay nhau nhằm xoá các bản án tội ác chiến tranh. Điều này tượng trưng cho "chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ" và gửi đến Nhà Trắng trong cấu trúc chiến tranh lạnh của Nhật Bản.

Trong thời gian giữa năm 1960, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã được gọi là "thần kỳ" xảy ra. Olympic Tokyo được tổ chức vào năm 1964 và Triển lãm thế giới năm 1970 được tổ chức tại Osaka.

Sau khi Chiến tranh Lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào năm 1989 chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, Nhật Bản thời hậu chiến vẫn tiếp tục liên minh Mỹ-Nhật. Thời kỳ đó bắt đầu từ cuộc cách mạng ở Đông Âu cũng được gọi là "thời kỳ Heisei".

Năm 1993, "Hệ thống của năm 1955" sụp đổ, Đảng Dân chủ Tự do đã trở thành một đảng đối lập tại thời điểm đầu tiên. Từ năm 1990 đến những năm 2000, Nhật Bản bị suy thoái kéo dài được gọi là "thập kỷ mất mát".

Liên minh Mỹ-Nhật Bản Hiệp ước[sửa | sửa mã nguồn]

Liên minh Mỹ-Nhật Bản Hiệp ước có hai phiên bản: phiên bản của năm 1952 và phiên bản của năm 1960.

Trên toàn Liên minh Mỹ-Nhật Hiệp ước, rất nhiều quân đội Hoa Kỳ xác định vị trí ở Nhật Bản như các quận Kanagawa và quần đảo Ryukyu.

Một trụ cột của Nhật Bản sau chiến tranh Mỹ-Hiệp ước an ninh của hệ thống và phù hợp theo Hoa Kỳ và chính sách của Mỹ trong và ngoài nước, giả hoặc nằm.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Sự chuyển tiếp của các đảng chính trị chính như sau:

  • 1945-1955: Các đảng chính trị mọc lên như nấm (Nghề nghiệp của GHQ cho đến 1952)
  • 1955-1993: Hai đảng chính là Đảng Dân chủ Tự do và Xã hội (Hệ thống 1955)
  • 1993-2003: các đảng chính trị nhỏ và đảng Dân chủ Tự do có đột biến
  • 2003-nay: Đảng Dân chủ và đảng Đảng Dân chủ Tự do và đảng nhỏ khác

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh là đa quốc gia ra nước ngoài sau hai năm nữa các sản phẩm của Nhật Bản trong thời đại phân phối trên toàn thế giới.

Các GNP và GDP được sử dụng như một chỉ báo của nền kinh tế cũng là một kỷ nguyên mới.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Các nền văn hóa điển hình của Nhật Bản thời hậu chiến là những hình ảnh Phim hoạt hình gọi là "Japanimation".

Ngoài ra, phim hoạt hình, video ca nhạc, người nổi tiếng như: truyền hình và đài phát thanh trong bối cảnh sự phát triển của nền văn hóa nổi tiếng được tạo ra.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]