Rái cá lông mũi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rái cá lông mũi[1]
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Mustelidae
Chi (genus) Lutra
Loài (species) L. sumatrana
Danh pháp hai phần
Lutra sumatrana
Gray, 1865
Phạm vi phân bố của Rái cá lông mũi
Phạm vi phân bố của Rái cá lông mũi

Rái cá lông mũi (danh pháp hai phần: Lutra sumatrana) là một trong những loài rái cá quý hiếm nhất trên Trái Đất. Cho đến năm 1998, nó được cho là đã tuyệt chủng. Tuy nhiên, kể từ sau đó, quần thể nhỏ đã được phát hiện.

Kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trọng lượng: 11 đến 13 pound (5,0-5,9 kg)
  • Chiều dài cơ thể trưởng: 20 đến 33 inch (51–84 cm)
  • Chiều dài đuôi: 14 đến 20 inch (36–51 cm) [3]

Xác định[sửa | sửa mã nguồn]

Rái cá lông mũi là ít nhất được biết đến của rái cá châu Á, và cũng là khó khăn nhất để xác định trong khu vực này. Rái cá lông mũi được đặt tên như vậy là vì những sợi lông cuối rhinarium (phần ẩm của mũi nó), các phần khác của nó tương tự như rái cá Á-Âu, Lutra lutra. Rái cá lông mũi là hoàn toàn màu nâu, trừ môi, cằm và trên cổ họng có màu trắng. Lông chúng khá thô nhưng ngắn. Đuôi dẹt và hình bầu dục trong mặt cắt ngang. Chân có màng giữa các ngón. Dương vật của con đực trưởng thành là không nhìn thấy được từ bên ngoài. Loài này liên lạc với nhau là một tiếng kêu chíp đơn âm tiết, con cái trưởng thành gọi đàn con với một âm ngắt. Rái cá lớn rất giống nhau và có thể được phân biệt tích cực chỉ qua sự kiểm tra chặt chẽ của mũi và lông thú, hoặc hộp sọ. Trong loài này, hộp sọ là phẳng mượt hơn rái cá mượt.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này phân bố ở Đông Nam Á: Myanma, Nam Thái Lan, Campuchia, Miền Nam Việt Nam và bán đảo Mã Lai[3]. Tại Việt Nam, chúng được tìm thấy ở Vườn quốc gia U Minh Hạ. Hiện tại, người ta tin rằng chúng chủ yếu sinh sống ở hai khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam,[4] rừng ngập nước Toa Daeng ở miền nam Thái Lan,[5] và ở Sumatra, địa phương mà loài này được đặt tên khoa học, nó được phát hiện lại vào nămin 2005.[6] Nó cũng được phát hiện lại ở Tonle Sap, Campuchia.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 532–628. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Hussain SA, Kanchanasakha B, de Silva PK & Olson A (2008). Lutra sumatrana. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 2008-10-13. Database entry includes justification for why this species is listed as endangered
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Payne.2C_J._1985._p_278
  4. ^ U Minh Hạ và Vồ Dơi: Nguyen, X.D., Pham, T.A. & Le, H.T. (2001) New Information about the Hairy-Nosed Otter (Lutra sumatrana) in Vietnam. IUCN Otter Spec. Group Bull. 18(2): 64 - 75
  5. ^ Kanchanasaka, B. K.(2001) Tracks and Other Signs of the Hairy-Nosed Otter (Lutra sumatrana). IUCN Otter Spec. Group Bull. 18(2): 57 - 63, and Lekakul, B., McNeely, J. 1977. Mammals of Thailand. Kurusaphra Press, Laprao, Thailand
  6. ^ Lubis, R. (2005) First Recent Record of Hairy-Nosed Otter in Sumatra, Indonesia. IUCN Otter Spec. Group Bull. 18(1): 14 - 20
  7. ^ Poole, C. M., 2003. The first records of Hairy-nosed Otter Lutra sumatrana from Cambodia with notes on the national status of three other otter species. Nat. Hist. Bull. Siam Soc. 51(2): 273–280