Nhân cách yêu mình thái quá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Rối loạn nhân cách ái kỷ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhân cách yêu mình thái quá
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Narcissus[1], một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, đang say mê ngắm hình ảnh của mình dưới nước. Tranh vẽ của Caravaggio.
ICD-10 F60.8
ICD-9 301.81
MeSH D010554

Nhân cách yêu mình thái quá (tiếng Anh:Narcissistic personality disorder - NPD) là một trạng thái không bình thường của nhân cách, có biểu hiện qua ảo tưởng và hành vi tự cao tự đại, khát vọng được người khác ngưỡng mộ, tham vọng thành công chói sáng trong mọi lãnh vực và thiếu sự đồng cảm với người khác[2]. Rối loạn nhân cách này gắn liền với tính vị kỷ (Egocentrism). Bệnh còn có tên gọi khác là Rối loạn nhân cách ái kỷ hay rối loạn nhân mãn.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Groopman và Cooper thì nguyên nhân gây nên rối loạn này không rõ ràng. Tuy nhiên, các yếu tố sau đây được các nhà nghiên cứu xem như là những khả năng gây bệnh:[3]

  • Một tính cách quá nhạy cảm từ khi sinh là hình thái triệu chứng mãn tính chính.
  • Hay được người lớn khen ngợi hoặc đánh giá cao về những khả năng hoặc vẻ bề ngoài quá đặc biệt.
  • Sự ca ngợi một cách quá mức sẽ dẫn đến sự mất cân bằng với những phản hồi thực tế.
  • Khen quá nhiều những hành động tốt hoặc chỉ trích thái quá những hành động xấu của trẻ em.
  • Cha mẹ quá nuông chiều hoặc đánh giá quá cao con cái.
  • Cảm giác bị la mắng gay gắt ở thời thơ ấu.
  • Bị cha mẹ chăm sóc một cách hời hợt hoặc tạo cảm giác không tin cậy vào mình.
  • Xem sự yêu quý của bố mẹ như là một chuẩn mực để quy định sự yêu quý của người khác dành cho mình.

Một số đặc điểm trên khá phổ biến và xuất hiện trong những giai đoạn phát triển bình thường. Nhưng khi những đặc điểm này kết hợp với một sự thất bại trong môi trường tập thể và tiếp tục vào tuổi trưởng thành, các tính cách này có thể phát triển một cách mạnh mẽ dẫn đến chứng rối loạn nhân cách ái kỷ.[4] Một số chuyên gia tâm lý theo trường phái Freud tin rằng nguyên nhân của rối loạn này là một hậu quả đã được định hình ở thời kỳ trẻ thơ.[5] Nếu một đứa trẻ từ 3 đến 7 tuổi không được công nhận tài năng của nó, thì nó sẽ không bao giờ mắc phải chứng rối loạn nhân cách ái kỷ.

Một nghiên cứu năm 1994 thực hiện bởi Gabbard và Twemlow[6] báo cáo rằng trong lịch sử của tội loạn luân, đặc biệt là loạn luân mẹ - con trai có liên quan đến chứng rối loạn nhân cách ái kỷ ở một số bệnh nhân nam.

Tiêu chuẩn chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Thường xuất hiện lúc bắt đầu trưởng thành trong nhiều hoàn cảnh khác nhau và có ít nhất 5 trong các biểu hiện dưới đây (Theo sổ tay phân loại và thống kê các rối loạn tâm thần của Mỹ DSM – IV)[2][7]:

  1. Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)
  2. Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…
  3. Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất
  4. Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ
  5. Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng
  6. Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.
  7. Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.
  8. Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình
  9. Có thái độ, hành vi kiêu căng

Chẩn đoán phân biệt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hysteria: Cũng thích được ngưõng mộ nhưng ở người Hystérie cảm xúc cường điệu hóa, bi kịch hóa.
  • Rối loạn nhân cách chống xã hội: cũng muốn thỏa mãn ước vọng vô điều kiện nhưng ở đây kèm thêm sự coi thường mọi chuẩn mực pháp luật và xã hội.
  • Tâm thần phân liệt hoang tưởng: ý tưởng tự cao mang nét hoang tưởng[2].

Dịch tễ học[sửa | sửa mã nguồn]

Tỷ lệ mắc bệnh suốt đời trong dân số nói chung là 1% và dao động từ 2% đến 16% trong các bệnh nhân lâm sàng (tức là những người đến khám ở các khoa tâm thần). 50% - 75% người mắc là nam giới [3]. Trong một cuộc khảo sát khác được tiến hành ở Mỹ từ giữa năm 2004 đến 2005 bằng cách phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt với 34.653 người trưởng thành cho thấy tỷ lệ mắc bệnh suốt đời lên tới 6,2% trong đó nam giới là 7,7% còn nữ giới ít hơn gần một nửa chỉ có 4,8%. Những người có nguy cơ cao bao gồm (kết quả chỉ giới hạn trong xã hội Hoa Kỳ - vì nghiên cứu này chỉ được thực hiện ở đây) [8]:

Bệnh kết hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Một số bệnh thường kết hợp với nhân cách yêu mình thái quá[9]:

Bệnh kết hợp Phần trăm khả năng
Rối loạn nhân cách kịch tính 53%
Rối loạn nhân cách ranh giới 47%
Rối loạn nhân cách hoang tưởng 36%
Rối loạn nhân cách tránh né 36%
Rối loạn nhân cách chống xã hội 16%
Trầm cảm 4%
Rối loạn lo âu 3%

Theo Moreover và Zukermann thì khi kết hợp với NPD, các triệu chứng của bệnh rối loạn lo âu và trầm cảm có chiều hướng tăng nặng[10]. Ronningstam chỉ ra thêm rằng rối loạn nhân cách ranh giới (BPD) khi kết hợp với rối loạn nhân cách ái kỷ sẽ khiến cho người bệnh có xu hướng tự sát cao hơn so với trường hợp chỉ mắc BPD[9].

Trợ giúp Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một số bệnh viện tâm thần lớn trong cả nước, cũng như địa chỉ để có thể liên hệ chữa trị:

  • Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia - 78, Giải Phóng, Phương Mai, Quận Đống Đa, TP.Hà Nội, web: http://www.nimh.gov.vn
  • Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương - Số 4, Phố Hồng Mai, Quận Hai Bà Trưng - TP.Hà Nội, web: http://www.maihuong.gov.vn
  • Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103 - nằm trên đường 70, Hà Đông, TP.Hà Nội
  • Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang - Xã Nhị Bình, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang, web: http://www.bvtamthantg.org.vn
  • Bệnh viện Tâm thần Tp.Hồ Chí Minh - 192 Hàm Tử, p.1, Quận 5, TP.Hồ Chí Minh, web: http://www.bvtt-tphcm.org.vn
  • Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 - Xã Hoà Bình, Huyện Thường Tín, TP.Hà Nội
  • Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 - Biên Hòa, Đồng Nai, web: http://www.nmh2.gov.vn

Ngoài ra người bệnh có thể nhận tham vấn tâm lý (tư vấn tâm lý) ở các cơ quan, tổ chức có năng lực khác

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Naricussus đã bị các vị thần trừng phạt bằng cách bỏ bùa mê cho chàng say đắm vẻ đẹp của chính mình khi chàng ngắm mình trong hồ nước, hết ngày này sang ngày khác chàng vẫn ngồi bên bờ hồ trầm trồ ngắm mình và chết đi. Nơi chàng chết mọc lên một loài hoa đẹp được gọi là hoa Thủy tiên, tên Narcissus được đặt cho chính căn bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ và cũng là danh pháp khoa học của chi Thủy tiên
  2. ^ a b c Thành phố Hồ Chí Minh.org.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=193&Itemid=76 Rối loạn nhân cách ái kỷ BS.Trần Duy Tâm-Bệnh viện Tâm thần TP.HCM
  3. ^ a b “Narcissistic Personality Disorder”. Personality Disorders - Narcissistic Personality Disorder. Armenian Medical Network. 2006. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2007.  Đã bỏ qua văn bản “ Leonard C. Groopman, M.D. Arnold M. Cooper, M.D. ” (trợ giúp)
  4. ^ Cooper AM: Narcissism in normal development, in Character Pathology. Edited by Zales M. New York, Brunner/Mazel, 1984, pp. 39-56.
  5. ^ Joseph Fernando, MPSY, M.D., The Etiology of Narcissistic Personality Disorder, (1998). Psychoanalytic Study of the Child, 53:141-158.
  6. ^ Gabbard, Glen O., Stuart W. Twemlow. 1994. The Role of Mother-Son Incest in The Pathogenesis of Narcissistic Personality Disorder. Journal of the American Psychoanalytic Association, Vol. 42, No. 1, 171-189 (1994) DOI: 10.1177/000306519404200109.
  7. ^ DSM IV-TR, Diagnostic criteria for 301.81 Narcissistic Personality Disorder
  8. ^ Prevalence, correlates, disability, and comorbidity of DSM-IV narcissistic personality disorder: results from the wave 2 national epidemiologic survey on alcohol and related conditions
  9. ^ a b Comorbidity
  10. ^ Zuckermann, 1999, p. 158