Triglyceride

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ví dụ về một phân tử triglyceride. Phần bên trái: glyxêrin, phần bên phải từ trên xuống: axit palmitic, axit oleic, axit alpha-linolenic, công thức hóa học: C: C55H98O6

Triglyceride hay còn gọi là chất béo trung tính, triacylglycerol, TAG hay triacylglyceride là 1 este có nguồn gốc từ glyxêrin và 3 axit béo.[1] Nó là thành phần chính của dầu thực vậtmỡ động vật.[2]

Thành phần và cấu trúc hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Triglyceride được hình thành bằng cách kết hợp glyxêrin với ba phân tử của axit béo. Các phân tử glyxêrin có ba nhóm chức hiđrôxyl (HO-). Mỗi axit béo có một nhóm chức carboxyl (COOH). Trong triglyceride, các nhóm chức hiđrôxyl của glyxêrin kết hợp với các nhóm cacboxyl của axit béo hình thành liên kết este:

HOCH2CH(OH)CH2OH + RCO2H + R'CO2H + R''CO2H → RCO2CH2CH(O2CR')CR'' + H2O

Ba axit béo (RCO2H, R'CO2H, R''CO2H trong phương trình ở trên) thường khác nhau. Chiều dài của chuỗi các axit béo trong triglyceride tự nhiên khác nhau, nhưng hầu hết có 16, 18, hoặc 20 nguyên tử carbon. Các axit béo tự nhiên được tìm thấy ở thực vật và động vật thường chỉ gồm các số chẵn của các nguyên tử carbon. Tuy nhiên, vi khuẩn có khả năng tổng hợp các chuỗi axít béo có số nguyên tử carbon lẻ và phân nhánh. Vì vậy, mỡ của các động vật nhai lại có các chuỗi axít béo số lẻ, chẳng hạn như 15, là do vi khuẩn trong dạ cỏ tổng hợp mà thành. Rất nhiều các axit béo là không bão hòa (unsaturated), và không bão hòa đa (poly-unsaturated). Hầu hết các chất béo tự nhiên có chứa một hỗn hợp phức tạp của các triglyceride, vì vậy, chúng tan chảy trong một phạm vi nhiệt độ rộng.

Không có loại dầu ăn nào chỉ có nguyên một loại bão hòa hay không bão hòa. Tất cả các chất béo và dầu tự nhiên đều bao gồm hỗn hợp của cả ba loại axít béo.[3]

Chất béo bão hòa(%) không bão hòa đơn (%) không bão hòa đa (%)
Dầu canola 6 62 32
Dầu safflower 10 13 77
Dầu hướng dương 10 20 69
Dầu bắp 13 25 62
Dầu đậu nành 15 24 61
Dầu ô liu 14 77 9
Mỡ 31 47 22
Mỡ heo 41 47 12
Mỡ 52 44 4
Dầu cọ 51 39 10
66 30 4
Dầu dừa 92 6 2

[3]

Mỡ động vật thường được cho là có chất béo bão hòa cao nhất. Đa số dầu thực vật có chất béo không bão hòa nhiều hơn, ngoại trừ dầu cọ và dầu dừa.[3] Có nhiều yếu tố góp phần vào việc tăng cường sức khỏe của từng loại chất béo: độ bão hòa, chiều dài của chuỗi carbon, tính nhạy cảm với oxy hoá và sự phát sinh gốc tự do.[3]

Chuyển hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Enzyme tiêu hóa lipase tụy sẽ phản ứng tại liên kết este, thủy phân liên kết và "giải phóng" axít béo. Ở dạng triglyceride, tá tràng không thể được hấp thụ được lipid. Các axít béo, monoglyceride (1 gốc glyxêrin liên kết với một loại axít béo) và vài diglyceride được tá tràng hấp thu khi các glyceride bị chia nhỏ.

Quy trình glycolysis

Triglyceride là thành phần chủ yếu của các lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (VLDL) và các chylomicron, nó đóng một vai trò quan trọng như là nguồn cung cấp năng lượng và chuyên chở các chất béo trong quá trình trao đổi chất. Glyceride chứa nguồn năng lượng (9 kcal/g hoặc 38 kJ/g) nhiều hơn gấp đôi so với các proteincacbohydrat khác. Ở ruột, nhờ tác dụng của men lipazadịch mật, glyceride được phân chia thành các monoacylglycerol và axít béo tự do trong quá trình gọi là sự phân giải lipid, sau đó được đưa xuống các tế bàoruột non hấp thu. Glyceride được tái hợp lại trong tế bào ruột non từ những phân mảnh, sau đó kết hợp với cholesteronprotein để hình thành các chylomicron (vi thể nhũ trấp). Chylomicron được bài tiết từ tế bào ruột non vào hệ bạch huyết và được dẫn truyền đến các mạch bạch huyết lớn gần tim sau đó vào máu. Các mô khác nhau có thể giữ lại chylomicron để giải phóng triglyceride dùng làm nguồn năng lượng. Mô mỡ và các tế bào gan có thể tổng hợp và dự trữ triglyceride. Khi cơ thể đòi hỏi nguồn axít béo cung cấp năng lượng, hormone glycagon (hormone báo hiệu đường huyết giảm) phát tín hiệu thực hiện thủy phân glyceride thành axít béo tự do. Khi não bộ không thể sử dụng năng lượng từ các axít béo, các gốc glyxêrin trong glyceride sẽ được chuyển hóa thành glucose, sau đó glucose thông qua chuỗi phản ứng glycolysis để chuyển thành Dihydroxyacetone phosphate rồi tiếp đó thành Glyceraldehyde 3-phosphate. Các tế bào mỡ cũng có thể chuyển hóa theo phương thức này để cung cấp năng lượng cho não.

Triglyceride không thể thẩm thấu qua màng tế bào. Các enzyme đặc biệt trên thành mạch máu phát tín hiệu cho các lipoprotein lipaza phải cắt glyceride thành axít béo tự do và glycerol. Axit béo sau đó được đưa vào tế bào.

Vai trò gây bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xét nghiệm máu, nồng độ triglyceride màu cam bên phải tăng theo độ tuổi

Cholesterol và triglyceride được mang đi trong máu nhờ kết hợp với một chất có tên là lipoprotein. Có nhiều loại lipoprotein: loại có tỉ trọng cao: HDL, tỉ trọng thấp: LDL, tỉ trọng rất thấp: VLDL. HDL có chức năng vận chuyển cholesterol còn VLDL có chức năng vận chuyển triglyceride trong máu.[4] Cholesterol kết hợp với LDL được ký hiệu là LDL-c là dạng cholesterol gây hại cho cơ thể. Chúng vận chuyển cholesterol vào trong máu, thấm vào thành mạch máu, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành mảng xơ vữa động mạch. Cholesterol kết hợp với HDL được ký hiệu là HDL-c là một dạng cholesterol có lợi cho cơ thể chống lại quá trình xơ mỡ động mạch bằng cách mang cholesterol dư thừa ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan.[4]

Ở cơ thể người, mức độ cao triglyceride trong mạch máu dẫn đến xơ vữa động mạch (xơ cứng động mạch) gây nguy cơ về các bệnh tim mạch và đột quỵ. Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực của triglyceride đến việc nâng cao tỷ lệ LDL:HDL đến nay vẫn chưa xác định rõ ràng. Mối nguy hiểm có thể được cho là sự tương quan tỷ lệ nghịch giữa nồng độ triglyceride và nồng độ HDL.

Tiêu chuẩn đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ đã đưa ra các tiêu chuẩn đối với nồng độ triglyceride trong máu:[5]

Nồng độ mg/dL Nồng độ mmol/L Giải thích
<150 <1.69 Bình thường, nguy cơ thấp
150-199 1.70-2.25 Bấp bênh cao
200-499 2.26-5.65 Cao
>500 >5.65 Rất cao: Nguy cơ cao

Giảm nồng độ triglyceride[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ dinh dưỡng giàu carbohydrate, với lượng carbohydrate chiếm hơn 60% tổng lượng calo, có thể làm tăng mức triglyceride.[5] Có một mối tương quan mạnh mẽ giữa mức triglyceride và lượng carbohydrate khi khảo sát đối với những người có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao hơn 28+ và kháng insulin (thường là những người thừa cân và béo phì).[6]

Có bằng chứng cho việc tiêu thụ carbohydrate làm tăng chỉ số đường huyết, gây ra dư thừa insulin và làm tăng mức trilyceride ở phụ nữ.[7] Những thay đổi bất lợi liên quan đến lượng tiêu thụ carbohydrate, bao gồm mức glyceride tăng, là những yếu tố rất nguy hiểm cho tim mạch của phụ nữ hơn là ở nam giới.[8]

Tập thể dục thường xuyên, chế độ dinh dưỡng giàu axít béo omega-3 có trong , dầu hạt lanh, và các nguồn khác, có thể làm giảm nồng độ triglyceride trong máu. Khuyến nghị ở Hoa Kỳ là nên ăn 3 gram mỗi ngày các loại dầu này, còn tại châu Âu khuyên dùng 2 gram. Tuy nhiên, lượng omega-3 tiêu thụ phải cân bằng với lượng axit béo omega-6 với một tỷ lệ ω-6/ω-3=1:01-04:01 (tức là không quá 4 gram omega-6 cho mỗi 1 omega-3).[9][10]

Carnitine và fibrate có khả năng làm giảm mức triglyceride trong máu.[11][12] Sử dụng rượu nặng có thể làm tăng mức triglyceride.[13]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nomenclature of Lipids”. IUPAC-IUB Commission on Biochemical Nomenclature (CBN). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2007. 
  2. ^ Nelson, D. L.; Cox, M. M. "Lehninger, Principles of Biochemistry" 3rd Ed. Worth Publishing: New York, 2000. ISBN 1-57259-153-6.
  3. ^ a ă â b Dr. Bruce Fife (28/08/2010). “The Coconut Oil Micracle”.  Đã bỏ qua tham số không rõ |Coauthor= (gợi ý |coauthor=) (trợ giúp)
  4. ^ a ă BS.Phan Hữu Phước - Thạc sĩ Lão khoa BV.Nguyễn Trãi. “RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU”. 
  5. ^ a ă “Your Triglyceride Level”. What Your Cholesterol Levels Mean. American Heart Association. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  6. ^ Parks, E.J. (2002). “Dietary carbohydrate’s effects on lipogenesis and the relationship of lipogenesis to blood insulin and glucose concentrations”. British Journal of Nutrition 87: S247–S253. doi:10.1079/BJN/2002544. PMID 12088525. “Those with a body mass index (BMI) equal to or greater than 28 kg/m2 experienced a 30% increase in TAG concentration, while those whose BMI was less than 28, experienced no change...These data demonstrate that certain characteristics (e.g. BMI) can make some individuals more sensitive with respect to lipid and lipoprotein changes when dietary CHO is increased. Such characteristics that have been identified from previous work in this field and include BMI, insulin sensitivity (Coulston et al. 1989), concentration of TAG before the dietary change is made (Parks et al. 2001), hormone replacement therapy (Kasim-Karakas et al. 2000), and genetic factors (Dreon et al. 2000).” 
  7. ^ “Focusing on Fiber?”. Drweil.com. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ “Dietary Glycemic Load and Index and Risk of Coronary Heart Disease in a Large Italian Cohort”. Archives of internal medicine. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2010. 
  9. ^ “Fish and Omega-3 Fatty Acids”. American Heart Association. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ Daley, C.A.; Abbott, A.; Doyle, P.; Nader, G.; and Larson, S. (2004). A literature review of the value-added nutrients found in grass-fed beef products. California State University, Chico (College of Agriculture). Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2008. 
  11. ^ Balch, Phyllis A. Prescription for nutritional healing. 4th ed. New York: Avery, 2006. p. 54 Carnitine
  12. ^ “Fibrates: Where Are We Now?: Fibrates and Triglycerides”. Medscape.com. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  13. ^ Hemat, R A S (2003). Principles of Orthomolecularism. Urotext. tr. 254. ISBN 1903737060. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]