Út Trà Ôn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Út Trà Ôn
Ut Tra On.jpg
NSND Út Trà Ôn
Sinh Nguyễn Thành Út
1919
Trà Ôn, Vĩnh Long
Mất 13 tháng 8, 2001 (81–82 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh
Nơi an nghỉ Chùa Nghệ Sĩ
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tên khác Mười Út (tên ở nhà)
Quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Nghề nghiệp Nghệ sĩ
Nổi tiếng vì Cải lương
Quê quán Vĩnh Long
Phối ngẫu Nguyễn Thị Bích Thủy
Con cái Bích Phượng
Giải thưởng 1997: Nghệ sĩ Nhân dân
Huân chương Vì sự nghiệp sân khấu

Út Trà Ôn (1919-2001) là nghệ sĩ cải lương tài danh. Ông tên thật là Nguyễn Thành Út, tên thường gọi trong gia đình là Mười Út (vì ông là người con thứ 10 và cũng là con út). Ông sinh tại ấp Đông Phú, làng Đông Hậu, quận Trà Ôn, xưa thuộc tỉnh Cần Thơ, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 16 tuổi, anh thanh niên Mười Út với lòng đam mê nghệ thuật cải lương học hát tại làng quê. Quê hương của ông cũng là một vùng đất nổi tiếng với nghệ thuật cải lương.

Năm 1937, Mười Út được người quen giới thiệu với Đài phát thanh Sài Gòn và từ đó chính thức có nghệ danh Út Trà Ôn. Giọng ca truyền cảm, ấm áp, chân thành, đậm chất miền Tây Nam Bộ của ông được giới thiệu trên làn sóng điện đã nhanh chóng được đông đảo thính giả yêu chuộng. Bản vọng cổ đầu tiên ông ca trên đài là bản: "Thức trót canh thâu". Với niềm đam mê nghệ thuật và khả năng ca diễn xuất sắc, Út Trà ôn thường xuyên góp tiếng hát cho Đài phát thanh, thu âm cho các hãng băng đĩa. Đặc biệt, với giọng ca đặc biệt của mình, ông đã góp phần nâng cao uy tín cho hãng đĩa ASIA với bài vọng cổ "Tôn Tẩn giả điên" gồm có 20 câu, là một sáng tác của vị Yết-Ma (tu sĩ Phật giáo).

Năm 1942, ông lần lượt biểu diễn cho các gánh cải lương như: Hề Lập, Thanh Long, Tiến Hoá, Mộng Vân, Sao Mai, Thanh Minh...

Năm 1954, ông lập gánh hát Kim Thanh, đây là lần đầu tiên ông làm bầu 1 đại bang danh tiếng lừng lẫy lúc bấy giờ và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều nghệ sĩ cao tuổi nhắc đến. Lúc ấy, đại bang này có nhiều nghệ sĩ tên tuổi lớn ví dụ như: Thanh Tao, Kim Chưởng, Thuý Nga cùng làm giám đốc.

Năm 1960, Út Trà Ôn cộng tác với đoàn Thủ Đô (chủ nhân của đoàn này là ông Phan Văn Bản và đồng thời là chủ nhân của hãng dĩa Hoành Sơn)

Năm 1962, Út Trà Ôn và người bạn thân là nghệ sĩ Hoàng Giang (cũng là một tên tuổi lớn) lập gánh Thống Nhứt, rồi cộng tác với các đoàn như: Dạ Lý Hương, Thái Dương, Quốc Thanh, Hương Dạ Thảo, Phương Bình, Thanh Hải, Tân Hoa Lan, Kim Chung v.v..

Năm 1975, sau ngày 30-4-1975, ông cộng tác với đoàn cải lương Sài Gòn 1, Trần Hữu Trang và sau đó là Sân khấu Tài Năng hay còn gọi là đoàn 2-84.

Tháng 3 năm 1997, ông được phong tặng Nghệ sĩ Nhân dân. Ông từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh, an táng tại Chùa Nghệ sĩ, Quận Gò Vấp. Hưởng thọ 82 tuổi. [1]

Mộ Út Trà Ôn tại nghĩa trang chùa Nghệ sĩ, Gò Vấp

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1997: Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân - đợt 4 và Huân chương Vì sự nghiệp sân khấu vì những đóng góp của ông cho nghệ thuật cải lương.

Các vai diễn nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Cải lương[sửa | sửa mã nguồn]

Các bài vọng cổ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng giọng hát ấm và ngọt, nghệ sĩ Út Trà Ôn nổi tiếng với rất nhiều bài vọng cổ. Ông được khán giả ái mộ với những vở cải lương. Rất nhiều bài vọng cổ cho đến ngày nay vẫn còn đọng lại ít nhiều ký ức và tình cảm trong lòng người mộ điệu:

  • Tình anh bán chiếu (Sáng tác: NSND Viễn Châu)
  • Tình người phu xe
  • Gánh chè khuya (Tác giả: NSND Viễn Châu)
  • Gánh nước đêm trăng
  • Tôn Tẩn giả điên
  • Ni cô và lão ăn mày
  • Ông lão chèo đò
  • Đời (Tác giả: NSND Viễn Châu)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Út Trà Ôn là cha của ca sĩ Bích Phượng. Bích Phượng không đi theo nghiệp cải lương cha mà hát, thể hiện những làn điệu dân ca Nam Bộ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Vĩnh biệt NSND Út Trà Ôn”. Báo Người lao động. 14 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2001.