Đình lạm
Trong kinh tế học, đình lạm[1][2] hay lạm phát đình đốn (tiếng Anh: stagflation) chỉ hiện tượng nền kinh tế đình đốn trong khi lạm phát cao.
Theo lý luận về đường cong Phillips của kinh tế học Keynes, có sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ thất nghiệp (hoặc giữa tỷ lệ lạm phát với tốc độ tăng trưởng GDP thực tế). Điều này hàm ý, nếu kinh tế đình đốn thì cũng không thể có lạm phát cao. Tuy nhiên, kinh tế Anh thập niên 1960 và 1970, kinh tế Mỹ đầu thập niên 1970 cho thấy trong khi kinh tế đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, mà tỷ lệ lạm phát lại không hề hạ xuống.
Các chính sách quản lý tổng cầu dựa trên các lý luận của kinh tế học Keynes không thể giải quyết được tình trạng đình lạm. Nếu nới lỏng tài chính hay nới lỏng tiền tệ để kích cầu và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao hơn, thì lạm phát sẽ gia tốc. Còn nếu thắt chặt tài chính hay thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, thì kinh tế lại có thể thu hẹp thêm. Thực tiễn này góp phần làm cho lý luận của kinh tế học Keynes bị mất uy tín và góp phần nâng cao danh tiếng của chủ nghĩa tiền tệ, kinh tế học vĩ mô cổ điển mới và kinh tế học trọng cung.
Nguyên nhân
[sửa | sửa mã nguồn]Trên thực tế vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh những nguyên nhân xảy ra tình trạng đình lạm. Tuy nhiên, có thể liệt kê một số nguyên nhân chủ yếu:
- Đứt gãy nguồn cung (hay cú sốc nguồn cung): Xảy ra do chiến tranh, thiên tai, sự cố kỹ thuật, thuế quan tăng đột ngột, v.v. khiến mức giá của nguyên liệu đầu vào (dầu mỏ, khí đốt,...) tăng vọt, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí sản xuất cao, buộc doanh nghiệp phải tăng mức giá bán ra. Dẫn đến tình trạng mức giá chung gia tăng. Mặt khác, do chi phí sản xuất tăng quá đột ngột làm doanh thu suy giảm, khiến doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, giảm bớt nhân công để bảo toàn. Điều đó lại dẫn đến tình trạng suy thoái, gây ra thất nghiệp.
- Cung tiền thiếu hiệu quả: Khi mức sản lượng () không ổn định hoặc đang gặp tình trạng suy thoái mà lượng cung tiền () được đổ vào quá lớn sẽ gặp phải tình trạng lạm phát leo thang trong khi sản lượng không được cải thiện.
Khắc phục
[sửa | sửa mã nguồn]Trong một số trường hợp ngắn hạn nhất định, buộc phải có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp trong khi xảy ra tình trạng đình lạm. Có nghĩa là, để nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái phải chấp nhận tình trạng lạm phát leo thang và ngược lại. Hiện nay, người ta thường kết hợp các Chính sách tài khóa, Chính sách tiền tệ, v.v. để kiểm soát tình trạng đình lạm.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Greenspan, Alan; Wooldridge, Adrian (2018). Capitalism in America: A History. New York: Penguin Press. tr. 299–326. ISBN 978-0735222441.
- Homer, Sidney; Sylla, Richard Eugene; Sylla, Richard (1996). A History of Interest Rates. Rutgers University Press. ISBN 978-0-8135-2288-3.
- Kynaston, David (2017). Till Time's Last Sand: A History of the Bank of England, 1694–2013. New York: Bloomsbury. tr. 501–587. ISBN 978-1408868560.
- Meltzer, Allan H. (2009). A History of the Federal Reserve – Volume 2, Book 2: 1970–1986. Chicago: University of Chicago Press. tr. 865–1131. ISBN 978-0226213514.
- Silber, William L. (2012). Volcker: The Triumph of Persistence. New York: Bloomsbury Press. tr. 118–237. ISBN 978-1608190706.
- Wells, Wyatt C. (1994). Economist in an Uncertain World: Arthur F. Burns and the Federal Reserve, 1970–1978. New York: Columbia University Press. tr. 121–228. ISBN 978-0231084963.