Kinh tế chính trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kinh tế chính trị là một môn khoa học xã hội nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Thuật ngữ "kinh tế chính trị" được dùng lần đầu tiên năm 1615 bởi Antoine de Montchrétien trong tác phẩm Traité d'économie politique. Thuật ngữ "kinh tế chính trị" xuất hiện do kết hợp các từ có nguồn gốc Hi Lạp với nghĩa là "thiết chế chính trị"[1].

Đối tượng nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

"Kinh tế chính trị" chỉ nghệ thuật quản lý kinh tế của một quốc gia để phân biệt với "kinh tế” là việc quản lý gia đình (từ tiếng Anh "political" có nguồn gốc từ politike trong tiếng Hy Lạp nghĩa là lo việc nước; còn "economy" có nguồn gốc từ chữ oikonomia trong tiếng Hy Lạp nghĩa là quản lý gia đình; political economy được dịch ra tiếng Việt là "kinh tế chính trị"). Có thể nói, kinh tế chính trị là kinh tế học dưới con mắt của chính khách. Học thuyết kinh tế chính trị có tính hệ thống đầu tiên là học thuyết của Adam Smith trong thế kỷ 18. Trong tác phẩm nổi tiếng An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, 1776, thường được gọi tắt là Của cải của các quốc gia hay Quốc phú luận), Adam Smith chỉ rõ:

"Political economy considered as a branch of the science of a statesman or legislator proposes two distinct objects, first, to supply a plentiful revenue or subsistence for the people, or more properly to enable them to provide such a revenue or subsistence for themselves; and secondly, to supply the state or commonwealth with a revenue sufficient for the public service. It proposes to enrich both the people and the sovereign."

Các phương pháp tiếp cận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương pháp lấy quyền lực là trung tâm. Đây là phương pháp tiếp cận của kinh tế chính trị cổ điển. Do coi quyền lực là vấn đề trung tâm của chính trị, nên họ cho rằng kinh tế chính trị nghiên cứu cách thức đạt được quyền lực trong nền kinh tế.
  • Phương pháp lấy xã hội làm trung tâm. Đây là cách tiếp cận của kinh tế chính trị Marx-Lenin và của chủ nghĩa công lợi. Các trường phái này xuất phát từ lợi ích xã hội để nghĩ về nhà nước.
  • Phương pháp lấy nhà nước làm trung tâm. Trường phái kinh tế chính trị tân cổ điểnkinh tế chính trị Keynes xuất phát từ cách xác định chính trị là khoa học về nhà nước, còn kinh tế hàm ý thị trường. Vì thế, họ cho rằng kinh tế chính trị nghiên cứu cân bằng quyền lực giữa thị trường và nhà nước. Nhà nước tìm cách kiểm soát nền kinh tế để đạt được những mục đích của mình.
  • Phương pháp lấy "chính nghĩa" làm trung tâm. Đây là cách tiếp cận của kinh tế chính trị hiện đại. Kinh tế chính trị hiện đại xuất phát từ quan điểm rằng có một hệ thống "quyền" gắn liền với thị trường, mà quan trọng nhất là quyền sở hữu. Chính trị có thể xác định và tác động tới các quyền đó. Vì thế, nhiệm vụ của kinh tế chính trị là nghiên cứu cách thức chính trị tác động tới các hệ thống quyền lợi đó. Kinh tế chính trị hiện đại có thể phân thành ba trường phái nhỏ hơn, đó là chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa khế ước hiện đại, và chủ nghĩa Hegel.

Mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết kinh tế chính trị nghiên cứu các hiện tượng kinh tế-xã hội để đưa ra các qui luật chung có thể áp dụng được vào các quá trình hoạt động kinh tế-xã hội nhằm phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Trong khi đó, trọng tâm của kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất.

Phạm vi nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm vi nghiên cứu truyền thống của kinh tế chính trị thường được chia làm bốn lĩnh vực là: sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu dùng.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất là hoạt động sử dụng tư liệu sản xuất đề tạo ra một vật thể hữu hình có giá trị sử dụng. Kinh tế chính trị lấy sản xuất là đối tượng nghiên cứu tiên quyết và lao động là điều kiện tồn tại của nó.

Tư liệu sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu sản xuất là bất kì công cụ nào giúp người lao động biến nguyên liệu thành vật thể hữu dụng. Bao gồm tư liệu hữu hình (máy móc, xưởng,..) và tư liệu vô hình (sáng kiến, kiến thức,...). Hay tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Người lao động dùng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm hàng hoá.

Phân phối[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng sản xuất cần được cung cấp tư liệu sản xuất, hàng hóa cần được vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Phân phối hình thành để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, tiền bạc và thông tin.

Trao đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Trao đổi là quá trình nhà sản xuất/nhà đầu tư trao đổi với người tiêu thụ. Người sản xuất và người tiêu thụ có quan hệ biện chứng với nhau tức là mỗi người sản xuất là người tiêu thụ, ngược lại mỗi người tiêu thụ cũng là người sản xuất. Trao đổi được thực hiện trên thị trường trong đó tiền tệ đóng vai trò là phương tiện thanh toán.

Tiêu dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu dùng là quá trình tác động vào hàng hóa biến đổi nó quay trở lại trạng thái không còn hữu dụng. Tiêu dùng phụ thuộc vào tính hữu dụng của hàng hóa và là mục đích cuối cùng của nhà sản xuất.

Phạm vi nghiên cứu của kinh tế chính trị học hiện đại đã vượt xa khỏi bốn lĩnh vực truyền thống này.

Các trường phái[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chính trị cổ điển[sửa | sửa mã nguồn]

Trường phái này bắt đầu từ tác phẩm Của cải của các dân tộc của Adam Smith (1776) đến Các nguyên lý kinh tế chính trị của John Steward Mill (1848). Các đại biểu của trường phái này bao gồm Smith, David Ricardo, Thomas Malthus và Mill. Cái tên "Kinh tế chính trị cổ điển" là do Marx đặt ra.[2] Những đóng góp lớn của trường phái này bao gồm lý luận về sự tự điều chỉnh của thị trường và lý luận về giá trị, về phân phối. Smith là người đầu tiên thảo luận về lý luận giá trị lao động và Ricardo phát triển lý luận này.

Kinh tế chính trị Marxist[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là trường phái kinh tế chính trị mà Karl Marx là người sáng lập và Fredric Angel là một đại biểu vĩ đại khác. Trường phái này đã phát triển đáng kể những lý luận về phân công lao động và lý luận giá trị lao động của kinh tế chính trị tân cổ điển, từ đó giới thiệu lý luận về lao động thặng dư, giá trị thặng dư, quy luật giá trịthay đổi hình thái giá trị. Marx đã phê phán lý luận về dư thừa dân số của Malthus và giới thiệu khái niệm về đội quân lao động dự bị. Marx đã tiếp thu và phát triển những lý luận của Ricardo về phân phối. Những đóng góp quan trọng khác của trường phái này là các lý luận về phương tiện sản xuất, phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, v.v...

Kinh tế chính trị tân cổ điển[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chính trị tân cổ điển có các đại biểu là William Stanley Jevons, Carl Menger, Léon Walras, Philip Henry Wicksteed, William Smart, Alfred Marshall, Eugen von Böhm-Bawerk, Friedrich von Wieser, Vilfredo Pareto. Trường phái này phê phán quan niệm của kinh tế chính trị cổ điển về thỏa dụng, cũng như phê phán quan niệm của kinh tế chính trị Mác-xít về giá trị sử dụng. Từ đó, họ giới thiệu khái niệm về thỏa dụng biên. Chính vì thế, trường phái này còn được gọi là chủ nghĩa cận biên. Đóng góp quan trọng khác của trường phái này bao gồm lý luận về sự lựa chọn trong ràng buộc, quyền sở hữu, hàng hóa công cộng, độc quyền, ảnh hưởng ngoại lai, v.v...

Kinh tế chính trị Keynes[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chính trị Keynes phê phán lý luận về sự tự điều chỉnh của thị trường của trường phái cổ điển. John Maynard Keynes phát triển lý luận về tính bất ổn định của tái sản xuất và tăng trưởng của kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Môn học liên quan đến kinh tế chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội. Nhiều nhà xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội hình thành dựa trên quan hệ sản xuất cũng như sự ảnh hưởng của quan hệ sản xuất lên hoạt động xã hội loài người.

Nhân loại học áp dụng kinh tế chính trị để nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống tư bản toàn cầu và các nền văn minh địa phương.

Lịch sử luôn thay đổi, phương pháp lịch sử được môn kinh tế chính trị áp dụng để nghiên cứu các qui luật chung của hoạt động kinh tế-xã hội.

Luật học, luật pháp được chính quyền áp dụng để quản lí xã hội. Trong kinh tế chính trị, luật cùng với các tư tưởng xã hội và quan điểm chính trị tạo nên kiến trúc thượng tầng.

Sinh thái học có quan hệ với kinh tế chính trị bởi vì hoạt động kinh tế-xã hội loài người ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái. Những thay đổi về mặt sinh thái tác động trở lại đến con người, nhiều khi tiêu cực.

Học thuyết chịu ảnh hưởng bởi kinh tế chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa tự do cho rằng phát triển kinh tế do giá trị thặng dư tư bản mà sinh ra chứ không phải giá trị thặng dư xã hội. Do đó lợi lộc thuộc cá thể chứ không phải toàn xã hội.

Chủ nghĩa bảo thủ quan niêm giá trị thặng dư tư bản thuộc về từng cá thể và giá trị thặng dư xã hội có rất ít hoặc không có. Đại diên của chủ nghĩa bảo thủ là Thomas Hobbes, Leo Strauss.

Chủ nghĩa xã hội tin rằng tỉ lệ giữa giá trị thặng dư tư bản và giá trị thặng dư xã hội rất thấp. Có nghĩa là mỗi cá thể tạo ra giá trị thặng dư đều là thành viên của xã hội nên giá trị thăng dư đó là của xã hội.

Chủ nghĩa cộng sản không biệt giữa giá trị thặng dư tư bản và giá trị thặng dư xã hội nhưng lại cho rằng tăng trưởng kinh tế-xã hội do giá trị thặng dư xã hội sinh ra. Đại diện xuất sắc của chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx, Friedrich Engels, LeninLev Davidovich Trotsky.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem bài Political Economy trong Catholoc Encyclopedia
  2. ^ Dasgupta A. K. (1985), Epochs of Economic Theory, Basil Blackwell Publisher, New York.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Political Economy
  • Caporaso, James A. and Levine, David P. (1992), Theories of Political Economy, Cambridge University Press.
  • John Neville Keynes (1999), The Scope and Method of Political Economy, Batoche Books

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]