Đại siêu thị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một dãy mặt hàng thực phẩm đóng hộp tại đại siêu thị Fred MeyerPortland, Oregon
Đại siêu thị ở Philippines, một chi nhánh của SM Hypermarket trong chuỗi siêu thị SM Mall of AsiaPasay, Metro Manila
Đại siêu thị Carrefour ở Punaauia, Tahiti

Đại siêu thị (tiếng Anh: Hypermarket) là một dạng siêu cửa hàng kết hợp giữa một siêu thị và một cửa hàng bách hóa.[1] Kết quả là nó tạo ra một địa điểm bán lẻ khổng lồ có khả năng chứa rất nhiều loại sản phẩm và hàng hóa bên trong, bao gồm toàn bộ các dòng sản phẩm tạp hóa cho đến đủ các loại sản phẩm thông thường khác. Trên lý thuyết, các đại siêu thị được tạo ra với mục đích cho phép người tiêu dùng thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm thông thường của mình chỉ trong một chuyến đi tới đây. Cụm từ gốc hypermarket trong tiếng Anh (tiếng Pháp: hypermarché) được sáng tạo vào năm 1968 bởi chuyên gia thương mại người Pháp Jacques Pictet.[2]

Các đại siêu thị, giống như các siêu cửa hàng khác, đều đi theo mô hình kinh doanh doanh số cao, biên lợi nhuận thấp. Thông thường, đại siêu thị có diện tích từ 5.000 đến 15.000 mét vuông, với sức chứa vào khoảng hơn 200.000 các loại thương hiệu và nhãn hàng khác nhau đồng thời. Do tính chất quá to lớn của mình, nhiều đại siêu thị được lựa chọn xây dựng tại các khu vực ngoại ô hoặc bên ngoài thành phố, tạo điều kiện dễ dàng cho khách hàng đi tới bằng ô tô.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1963, Carrefour mở ra đại siêu thị đầu tiên tại St Genevieve-de-Bois, gần Paris, Pháp.[3]

Canada[sửa | sửa mã nguồn]

Loblaws xây dựng chuỗi siêu thị Real Canadian Superstore vào năm 1979. Nơi đây chủ yếu bán các mặt hàng tạp hóa, bên cạnh đó còn bán lẻ các mặt hàng may mặc, đồ điện tử và đồ gia dụng.

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Đại siêu thị đầu tiên tại châu Âu thường bị mọi người nhầm tưởng là siêu thị Carrefour được xây dựng vào năm 1963, tại Sainte-Geneviève-des-Bois, Pháp.[4] Tuy nhiên, trên thực tế, nhà bán lẻ Bỉ Grand Bazar mới là công ty xây dựng các đại siêu thị đầu tiên, với liên tục ba đại siêu thị được mở cửa trong thời gian ngắn vào năm 1961 với tên gọi SuperBazar, sau khi điều luật của nước Bỉ về giới hạn quy mô của các siêu thị bách hóa tại nước này bị bãi bỏ vào tháng 1 năm 1961. Siêu thị SuperBazar mở cửa tại Bruges vào ngày 9 tháng 9 năm 1961, ban đầu được thiết kế chỉ với quy mô 3.300 mét vuông và không bán thực phẩm, nhưng sau đó đã được chuyển đổi để trở thành siêu thị bách hóa như bình thường. Đại siêu thị tiếp theo được xây dựng chỉ sau đó một tuần tại Auderghem gần Brussels, với diện tích 9.100 m2. [5]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Đại siêu thị đầu tiên tại Nhật là tiền thân của Ito Yokado, được xây dựng vào năm 1920, chuyên bán các mặt hàng của phương Tây, mở được đưa vào sử dụng cho đại chúng vào năm 1957, sau đó được đổi sang cái tên như hiện nay vào năm 1965. Seibu Department Stores là một đại siêu thị khác được thành lập vào năm 1956, sau đó tiếp tục được mở rộng thành một chuỗi các cửa hàng bách hóa có tên Seiyu Group vào năm 1963. Isao Nakauchi thành lập siêu thị Daiei đầu tiên ở Kobe vào năm 1957, chủ yếu bán các loại quần áo, thiết bị điện, nội thất và hàng tạp hóa. Jusco được thành lập vào năm 1970, sau đó dần được biết đến với cái tên như ngày nay là Aeon.

Trong tiếng Nhật, đại siêu thị được gọi là 総合スーパー (Sougou Suupaa, Cửa hàng bách hóa tổng hợp).

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Mỹ thường không hay sử dụng thuật ngữ "đại siêu thị" (hypermarket), thay vào đó họ sẽ dùng các từ như "siêu cửa hàng", "siêu trung tâm" (Tiếng Anh: big-box stores, supercenters và superstores). Cho đến thập niên 1980, các cửa hàng lớn kết hợp cả mặt hàng thực phẩm và các mặt hàng khác vẫn chưa phổ biến tại Mỹ, mặc dù vậy, vẫn có những tiền thân của các đại siêu thị xuất hiện từ trước đó.[6]

Chuỗi cơ sở Meijer ở vùng Trung Tây, hiên nay có 235 cửa hàng tại 6 bang của Mỹ,[7] đã mở "siêu trung tâm" đầu tiên của mình tại Grand Rapids, Michigan vào tháng 6 năm 1962, dưới tên thương hiệu "Thrifty Acres".[8][9]

Vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, ba chuỗi cửa hàng cửa hàng bách hóa lớn tại Mỹ – Walmart, KmartTarget – bắt đầu phát triển các đại siêu thị của riêng mình. Wal-Mart (sau đó đã đổi tên thành Walmart vào cuối thập niên 2000) cho ra mắt Hypermart USA vào năm 1987, tiếp theo đó là Wal-Mart Supercenter vào năm 1988;[10] Kmart mở cửa đại siêu thị Super Kmart (ban đầu được gọi là Kmart Super Center) vào năm 1991;[11] còn Target bắt đầu với đại siêu thị Target Greatland vào năm 1990, sau đó là đại siêu thị SuperTarget vào năm 1995.[12]

Quy mô[sửa | sửa mã nguồn]

Trung bình, một Đại trung tâm của Walmart sẽ có quy mô vào khoảng 16.500 m2, với siêu thị lớn nhất có quy mô lên tới 24.000 m2.[13] Một đại siêu thị Carrefour bình thường cũng có diện tích khoảng 10.000 m2. Xu hướng chung của châu Âu từ những năm 2000 đến này là tập trung vào các đại siêu thị có quy mô nhỏ hơn, vào khoảng 3.000 đến 5.000 m2.[14] Tại Pháp, INSEE định nghĩa đại siêu thị là (tiếng Pháp: hypermarché/s) những siêu thị tổng hợp với quy mô ít nhất là 2.500 m2.[15]

Thành công[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực sản phẩm tại một đại siêu thị Walmart Supercenter (thương hiệu đại siêu thị của Walmart) ở Mexico

Sau những thành công của các siêu thị và đại siêu thị và trong bối cảnh lo sợ rằng các cửa hàng nhỏ hơn có thể bị buộc phải rút khỏi thị trường, Pháp đã ban hành các điều luật để khiến việc xây dựng các đại siêu thị trở nên khó khăn hơn và cũng hạn chế số lượng đòn bẩy kinh tế mà các chuỗi đại siêu thị có thể áp đặt đối với các nhà cung cấp.

Ở Pháp, các đại siêu thị thường nằm trong các trung tâm mua sắm (tiếng Pháp: centre commercial or centre d'achats) ở bên ngoài thành phố, mặc dù vẫn có một số nằm ở nội đô. Những cơ sở này được bao quanh bởi các cơ sở bãi đỗ xe rộng rãi, và thường là cả các siêu cửa hàng chuyên dụng bán các mặt hàng như quần áo, dụng cụ thể thao, linh kiện ô tô,...

Tại Nhật, các đại siệu thị có thể được đặt tại các vùng đô thị hoặc ngoại ô. Chính phủ Nhật Bản rất khuyến khích việc xây dựng và thành lập các đại siêu thị vì việc đầu tư lẫn nhau trong cổ phiếu tài chính là một cách thức thông dụng để mở đại siêu thị ở đây. Các đại siêu thị ở Nhật Bản có thể bao gồm nhà hàng, quầy hàng manga (truyện tranh Nhật Bản), tiệm cà phê Internet, các cửa hàng tạp hóa khác nhau với đầy đủ các mặt hàng, thẩm mỹ viện và rất nhiều các dịch vụ khác. Một xu hướng gần đây tại Nhật đó là kết hợp mô hình đại siêu thị với cửa hàng đồng giá tạo ra những cơ sở có tên gọi là "hyakkin plaza"—hyakkin (百均) hoặc hyaku en (百円), có nghĩa là 100 Yên.

Tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực hàng hóa ở Saveco

Mặc dù đã đạt được nhiều thành công, tuy nhiên mô hình kinh doanh đại siêu thị hiện đang bị đe dọa bởi sự phát triển của mua sắm điện tử và sự chuyển dịch của kinh doanh sang hướng tập trung hóa, theo nhận định của nhà phân tích Sanjeev Sanyal đến từ Deutsche Bank's Global Strategist.[16] Sanyal cũng chỉ ra rằng những quốc gia đang phát triển như Ấn Độ rất có thể thậm chí sẽ bỏ qua quá trình xây dựng các đại siêu thị để tiến tới xây dựng ngành thương mại điện tử ngay lập tức.[17]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Staff, Investopedia (24 tháng 6 năm 2007). “Hypermarket”. Investopedia (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018. 
  2. ^ Grimmeau 2013, tr. 3.
  3. ^ Byrne-Paquet, L., The Urge to Splurge: A Social History of Shopping, ECW Press, Toronto, Canada, p. 83
  4. ^ Jean-Mark Villermet, Naissance de l'hypermarche, 1991, ISBN 2-200-37263-9, Colin (publisher).
  5. ^ Grimmeau 2013, tr. 1–3.
  6. ^ Grimmeau 2013, tr. 8.
  7. ^ Meijer website: Our Company Linked 2014-01-09
  8. ^ Meijer website: Our History Linked 2014-01-09
  9. ^ “Column: Meijer's first Super center past its prime but full of good memories”. MLive.com. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  10. ^ “Walmart Corporate - We save people money so they can live better.”. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  11. ^ “Sears Holdings Corporation - Corporate Website”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ Target website: Target through the years Linked 2014-01-09
  13. ^ Paul Ausick (22 tháng 3 năm 2014). “Walmart Now Has Six Types of Stores”. 24/7 Wall Street. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2016. 
  14. ^ David Jolly (27 tháng 1 năm 2012). “Carrefour Rethinks Its ‘Bigger Is Better’ Strategy”. New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2016. 
  15. ^ (Bản báo cáo).  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ “Sanjeev Sanyal on The Customization Revolution - Project Syndicate”. Project Syndicate. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  17. ^ “Sanjeev Sanyal on Clicks over Bricks in India - Project Syndicate”. Project Syndicate. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]