Thương mại điện tử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giao diện ứng dụng thương mại điện tử LetGo trên điện thoại.

Thương mại điện tử[1], hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC, hiểu một cách đơn giản là hoạt động mua bán sản phẩm hay dịch vụ thông qua Internet và các phương tiện điện tử khác. Các giao dịch này gồm tất cả hoạt động như: mua bán, thanh toán, đặt hàng, quảng cáo và giao hàng... Trên thế giới, những tổ chức lớn trên thế giới cho biết khái niệm của thương mại điện từ được định nghĩa như sau:

  • Theo Ủy ban Kinh tế Liên Hiệp Quốc châu Âu (UNECE): "Thương mại điện tử nội địa bao gồm các giao dịch trong nước qua Internet hoặc các mạng máy tính trung gian, trong khi đó, thương mại điện tử quốc tế liên quan đến các giao dịch xuyên biên giới. Các giao dịch này là giao dịch mua/bán hàng hóa hoặc dịch vụ, sau đó, quá trình chuyển giao hàng hóa có thể được thực hiện trực tuyến hoặc thủ công.”
  • Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): “Thương mại điện tử được định nghĩa là các giao dịch thương mại, bao gồm cả những giao dịch giữa các tổ chức hoặc cá nhân thông qua quá trình thực hiện và chuyển giao dữ liệu số. Các dữ liệu này bao gồm chữ, âm thanh và hình ảnh được truyền qua các mạng lưới mở (như Internet) hoặc mạng kín (như AOL hay Mintel) có cổng kết nối với mạng mở. ”
  • Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)[2]: "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
  • Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)[3]: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet."

Tuy nhiên, thương mại điện tử không chỉ là kinh doanh sử dụng công nghệ. Thương mại điện tử cho thấy sự ứng dụng của nó một cách liền mạch từ điểm đầu đến điểm cuối của toàn bộ quy trình kinh doanh, được thực hiện bằng điện tử và được thiết kế để giúp hoàn thành mục tiêu kinh doanh. Nó có thể ứng dụng trong một phần hoặc toàn bộ chu trình và bao gồm các giao dịch kinh doanh giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng và người tiêu dùng với doanh nghiệp.

Phân biệt thương mại điện tử và kinh doanh điện tử[4][sửa | sửa mã nguồn]

Kinh doanh điện tử (E-Business) là thuật ngữ xuất hiện trước thương mại điện tử (E-Commerce), tuy nhiên, còn khá nhiều mơ hồ trong việc xác định liệu hai thuật ngữ này có giống nhau hay không.

Có ý kiến cho rằng thương mại điện tử đôi khi là một nhánh phát triển thêm từ Kinh doanh điện tử . Thương mại điện tử chú trọng đến việc mua bán trực tuyến (tập trung bên ngoài), trong khi đó kinh doanh điện tử là việc sử dụng Internet và các công nghệ trực tuyến tạo ra quá trình hoạt động kinh doanh hiệu quả dù có hay không có lợi nhuận, vì vậy tăng lợi ích với khách hàng (tập trung bên trong).

Cụ thể, kinh doanh điện tử là thiết lập hệ thống hay ứng dụng thông tin để phục vụ và làm tăng hiệu quả kinh doanh. Kinh doanh điện tử bao phủ quá trình hoạt động trong doanh nghiệp, từ mua hàng qua mạng (e-procurement, e-purchasing), quản lý dây chuyền cung cấp nguyên vật liệu, xử lý đơn hàng, phục vụ khách hàng và giao dịch với đối tác qua các công cụ điện tử cho đến chia sẻ dữ liệu giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp. Trong khi đó, thương mại điện tử tập trung vào việc mua bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thông tin qua mạng, các phương tiện điện tử và Internet. Theo nghĩa rộng hơn, thương mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để triển khai thương mại. Nói cách khác, thương mại điện tử là thực hiện quy trình cơ bản và quy trình khác của giao dịch thương mại bằng phương tiện điện tử, cụ thể là trên mạng máy tính và viễn thông một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể.

Việc phân biệt tương đối giữa hai thuật ngữ này sẽ giúp nhà quản trị phân định rõ mục tiêu kinh doanh và hướng tiếp cận của doanh nghiệp.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của thương mại điện tử không thể không kể đến hai công nghệ chủ chốt là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) và chuyển tiền điện tử (EFT). Tại thập niên 70, sự ra đời của chúng cho phép các doanh nghiệp gửi các hợp đồng điện tử như đơn đặt hàng hay hóa đơn điện tử. Bên cạnh đó, vào thập niên 80, việc phát minh ra thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và sự phát triển của chúng trong đời sống hằng ngày cũng góp phần làm nên thương mại điện tử. Cũng trong thời gian đó, tại Mỹ và Anh đã xuất hiện hệ thống đặt vé máy bay do SabreTravicom phát triển. Có thể xem chúng là một trong những doanh nghiệp tiên phong tham gia vào ngành thương mại điện tử. Đến thập niên 90, thương mại điện tử quy nạp thêm các hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữ liệu.

Một dấu mốc rất quan trọng đó là vào năm 1990, khi World Wide Web được phát minh bởi Tim Berners-Lee. Dù Internet đã trở nên phổ biến vào năm 1994, đến tận cuối năm 2000, hàng loạt các công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu bắt đầu thiết lập các dịch vụ thông qua World Wide Web. Từ đó, con người bắt đầu phát triển mối liên hệ với "E-Commerce". Họ trao đổi các loại hàng hóa khác nhau thông qua Internet và sử dụng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử.

Các dấu mốc phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Các mốc thời gian đáng chú ý về sự phát triển của thương mại điện tử được liệt kê như sau:

  • 1971 (1972): ARPANET được sử dụng trong hoạt động bán cần sa giữa các sinh viên tại Phòng Thí nghiệm trí tuệ nhân tạo Stanford và Viện Công nghệ Massachusetts.
  • 1972: Mohamed M. Atalla nộp bằng sáng chế cho hệ thống bảo mật dùng cho mạng viễn thông, sử dụng kỹ thuật mã hóa để đảm bảo an ninh viễn thông, đây được xem là tiền thân của thương mại điện tử thực hiện qua Internet.
  • 1981: Hệ thống mua sắm giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) đầu tiên Thomson Holidays UK được thiết lập.
  • 1982: Minitel được giới thiệu ra toàn nước Pháp bởi công ty France Télécom để sử dụng cho mục đích đặt hàng trực tuyến.
  • 1984: Tháng 4 năm 1984, CompuServe ra mắt Trung tâm Mua sắm Điện tử ở Mỹ và Canada. Đây là dịch vụ thương mại điện tử toàn diện đầu tiên.
  • 1989: Tháng 5 năm 1989, Sequoia Data Corp. giới thiệu Compumarket, hệ thống Internet đầu tiên sử dụng cho thương mại điện tử. Trong đó, người bán có thể đăng bán vật phẩm và người mua có thể tìm kiếm dữ liệu hàng hóa và thanh toán bằng thẻ tín dụng.
  • 1990: Tim Berners-Lee viết ra trình duyệt đầu tiên trên thế giới là World Wide Web, sử dụng máy tính NeXT.[5]
  • 1992: Book Stacks Unlimited tại Cleveland mở trang thông tin điện tử thương mại (www.books.com) để bán sách trực tuyến, quá trình thanh toán sử dụng thẻ tín dụng.
  • 1994: Netscape cho ra mắt trình duyệt Navigator vào tháng 10 dưới mã tên Mozilla. Netscape 1.0 được ra mắt sau đó cùng năm với mã hóa SSL để bảo mật thông tin giao dịch.
  • 1995: Amazon.com ra mắt bới Jeff Bezos.
  • 1995: eBay được thành lập bởi lập trình viên máy tính Pierre Omidyar dưới dạng trang thông tin điện tử cho hoạt động đấu giá. Đây là trang đấu giá trực tuyến đầu tiên hỗ trợ giao dịch giữa người với người.[6]
  • 1998: Tem điện tử được mua và tải để in từ Web.
  • 1999: Tập đoàn Alibaba ra đời tại Trung Quốc.
  • 1999: Thương mại điện tử toàn cầu đạt 150 tỷ USD.
  • 2000: Thời kỳ dot-com bùng nổ.
  • 2001: eBay có cơ sở dữ liệu người dùng lớn nhất trong tất cả các trang web thương mại.
  • 2001: Alibaba.com có lợi nhuận vào tháng 12.
  • 2002: eBay thu mua PayPal với 1.5 tỷ USD.[7]
  • 2003: Amazon.com thông báo năm đầu tiên có lợi nhuận.
  • 2007: Business.com được mua lại bởi R.H. Donnelley với 345 triệu USD.[8]
  • 2009: Zappos.com mua lại bởi Amazon.com với 928 triệu USD.[9]
  • 2011: Quidsi.com, công ty mẹ của Diapers.com, được mua lại bởi Amazon.com với 500 triệu USD cùng với khoản nợ 45 triệu. eBay mua lại GSI commerce với 2.4 tỉ USD.[10]
  • 2014: Thương mại điện tử và doanh số bán lẻ trực tuyến của Hoa Kỳ dự kiến đạt 294 tỷ USD. Tập đoàn Alibaba được chào mua công khai với giá ban đầu cao nhất trong lịch sử, trị giá 25 tỷ USD.[11]
  • 2015: Amazon.com chiếm hơn một nửa tỷ lệ trong tăng trưởng thương mại điện tử trên thế giới.[12]
  • 2017: Thương mại điện tử bán lẻ toàn thế giới đạt 2.9 nghìn tỷ USD, trong đó, 2.5 nghìn tỷ theo hình thức B2B và 0.39 nghìn tỷ cho hình thức giao dịch B2C.[13]
  • 2018: Dự kiến 1.8 tỷ người trên toán thế giới mua hàng trực tuyến.
  • 2019: Doanh số thương mại điện tử thế giới đạt gần 3.46 nghìn tỷ USD trong năm 2019. Con số này tăng 17.9% so với năm 2018.

Các loại hình thương mại điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại theo đối tượng tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Khi phân chia thương mại điện tử theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ (G - Government), Doanh nghiệp (B-Business) và Khách hàng (C - Customer hay Consumer). Trong đó, 4 dạng phổ biến là B2B, B2C, C2C, B2G.

Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B)[sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử B2B được định nghĩa đơn giản là thương mại điện tử giữa các công ty. Đây là loại hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau. Khoảng 80% thương mại điện tử theo loại hình này và phần lớn các chuyên gia dự đoán rằng thương mại điện tử B2B sẽ tiếp tục phát triển nhanh hơn B2C.

Các doanh nghiệp B2B có những đặc điểm nhận dạng như sau:

  • Là những nhà cung cấp hạ tầng trên mạng internet cho các doanh nghiệp khác như máy chủ, hệ điều hành, phần mềm ứng dụng;
  • Là các doanh nghiệp chuyên cung cấp các giải pháp trên mạng internet như cung cấp máy chủ, hosting (Dữ liệu trên mạng), tên miền, các dịch vụ thiết kế, bảo trì, website;
  • Là các doanh nghiệp cung cấp các phần mềm quản lý doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp, các phần mềm quản trị, các phần mềm ứng dụng khác cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C)[14][sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử B2C hay là thương mại giữa các công ty và người tiêu dùng, liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực (hữu hình như là sách hoặc sản phẩm tiêu dùng) hoặc sản phẩm thông tin (hoặc hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá, như phần mềm, sách điện tử) và các hàng hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử.

Đơn giản hơn chúng ta có thể hiểu: Thương mại điện tử B2C sử dụng mạng Internet như một kênh bán lẻ thông tin, sản phẩm, dịch vụ giao hàng… Bắt đầu từ năm 2005, B2C phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới. Các trang web toàn cầu rất thành công với hình thức này trên thế giới phải kể đến Amazon.com, Drugstore.com, Beyond.com.

Khách hàng với khách hàng (C2C)[sửa | sửa mã nguồn]

C2C là một mô hình kinh doanh, theo đó người tiêu dùng có thể giao dịch với nhau, thông thường trong môi trường trực tuyến. Đây là giao dịch thương mại trực tuyến giữa những người tiêu dùng thông qua một bên thứ ba, chẳng hạn một trang web làm trung gian đấu giá trực tuyến hay bán hàng trung gian.

C2C đại diện cho một thị trường nơi một khách hàng mua hàng hóa từ một khách hàng khác, sử dụng nền tảng bên thứ ba tạo ra để thuận lợi cho giao dịch. Các doanh nghiệp C2C là một loại mô hình mới xuất hiện cùng với công nghệ thương mại điện tử và nền kinh tế chia sẻ.

Doanh nghiệp với chính phủ (B2G)[15][sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với chính phủ (B2G) được định nghĩa chung là thương mại giữa công ty và khối hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động khác liên quan tới chính phủ.

Các chính sách mua bán trên web tăng cường tính minh bạch của quá trình mua hàng (và giảm rủi ro của việc không đúng quy cách). Tuy nhiên, tới nay, kích cỡ của thị trường thương mại điện tử B2G trong tổng ngành thương mại điện tử thì không đáng kể nguyên do là hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát triển.

Ngoài 4 hình thức chia theo đối tượng phổ biến trên, thương mại điện tử còn có một số loại hình sau:

  • Doanh nghiệp với Nhân viên (B2E)
  • Chính phủ với Doanh nghiệp (G2B)
  • Chính phủ với Chính phủ (G2G)
  • Chính phủ với Công dân (G2C)
  • Khách hàng với Doanh nghiệp (C2B)

Phân loại theo phương tiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh các kiểu E-commerce truyền thống bên trên, nhiều thể loại E-commerce hiện đại cũng đồng thời phát triển song song với sự phát triển của công nghệ. Nổi bật có thể kể đến T-commerceM-commerce.

T-commerce (Television commerce)[16][sửa | sửa mã nguồn]

T-Commerce là một thuật ngữ mô tả giao dịch phát sinh thông qua một Tivi kỹ thuật số (thông minh) ngoài chức năng chính của nó. Tivi hoạt động như một kênh marketing cho phép giao tiếp hai chiều, cho phép quảng cáo tương tác và quảng cáo theo địa chỉ. Đây là một loại hình con của thương mại điện tử, phát triển và hiện đại hơn. Triển vọng của T-commerce là giúp là tăng cường các kênh mua sắm cũng như quảng cáo truyền hình thông thường bằng cách cung cấp cho người tiêu dùng khả năng mua hàng chỉ với một lần chạm “One-Click” “Buy-It”.

M-commerce (Mobile commerce)[17][sửa | sửa mã nguồn]

M-Commerce là thương mại di động, về cơ bản là các giao dịch điện tử được thực hiện bằng cách sử dụng một thiết bị đầu cuối di động thông qua mạng không dây. Các hoạt động có thể đa dạng như hoạt động giao dịch (ví dụ: ngân hàng, thanh toán, mua sắm, đặt chỗ du lịch), truyền tin (ví dụ: thể thao, thời tiết và bản đồ), ưu đãi và giải trí (ví dụ: chơi game, âm nhạc, nhắn tin, phương tiện truyền thông xã hội).

Về nguyên tắc chung, M-commerce không khác E-commerce mà chiếc máy điện thoại di động được coi là cửa vào. Trên thực tế, sự gắn kết giữa người sử dụng với chiếc máy điện thoại di động đã mang lại hàng loạt các ứng dụng mới với khả năng đáp ứng nhu cầu cá nhân và truy cập linh động hơn.

Với tính rộng khắp, khả năng tiếp cận, định vị, tính cá nhân hóa, tiện lợi… của thiết bị di động, M-commerce được đánh giá sẽ thay thế E-commerce trong tương lai gần.

Những tính chất của thương mại điện tử [18][sửa | sửa mã nguồn]

  • Được phát triển dựa trên công nghệ

Thương mại truyền thống đã xuất hiện từ thời xa xưa, còn thương mại điện tử là kết quả của việc tích hợp công nghệ kỹ thuật số với các quy trình kinh doanh và các giao dịch kinh tế. Nền tảng công nghệ của thương mại điện tử là Internet, World Wide Web và các giao thức khác.

  • Công nghệ trung gian

Trong thương mại điện tử, người mua và người bán gặp trực tiếp nhau trong không gian ảo thay vì là một địa điểm như thương mại truyền thống. Do đó thương mại điện tử là một công nghệ trung gian.

  • Tính quốc tế

Trong thương mại điện tử các hoạt động mua bán diễn ra trên các trang web. Các trang web này có thể truy cập từ bất kỳ nơi nào trên toàn cầu do đó thương mại điện tử có tính quốc tế.

  • Thông tin hai chiều

Công nghệ thương mại điện tử đảm bảo liên lạc hai chiều giữa người mua và người bán. Một mặt, bằng cách sử dụng thương mại điện tử các công ty có thể giao tiếp với khách hàng thông qua các trang web. Mặt khác, khách hàng cũng có thể điền vào các mẫu đơn đặt hàng, phản hồi và tương tác với các công ty có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử.

  • Cung cấp thông tin

Thương mại điện tử đóng vai trò là kênh truyền thông tốt nhất. Các công nghệ thương mại điện tử đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng với chi phí rất thấp và cũng làm tăng đáng kể mật độ thông tin.

  • Tính đa ngành

Triển khai thương mại điện tử cần rất nhiều kiến thức về các vấn đề quản trị, công nghệ, xã hội và pháp lý. Bên cạnh đó, sự hiểu biết về hành vi của người tiêu dùng, các công cụ marketing cũng quan trọng như thiết kế các trang web thương mại điện tử.

Ứng dụng kinh doanh của thương mại điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là một số ứng dụng trong kinh doanh của thương mại điện tử:

Các tác động của thương mại điện tử đến kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử đã tạo ra một tác động sâu sắc đến xã hội. Bây giờ mọi người có thể mua sắm trực tuyến trong sự riêng tư tại nhà của họ mà không cần phải đi ra ngoài. Điều này có thể buộc các doanh nghiệp sẽ phải mở một bộ phận bán hàng trực tuyến. Trong một số trường hợp, nó cũng có thể buộc các doanh nghiệp nhỏ hơn phải đóng cửa hoặc chuyển sang hoàn toàn trực tuyến. Nó cũng thay đổi cách mọi người nhìn vào việc mua hàng và tiêu tiền. Thương mại điện tử đã thay đổi bộ mặt của bán lẻ, dịch vụ và những thứ khác làm cho nền kinh tế của chúng ta vận hành. Thương mại điện tử sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến cách các công ty bán và marketing sản phẩm, cũng như cách mọi người chọn mua hàng trong thời gian sắp tới. Sau đây là những tác động của thương mại điện tử đối với nền kinh tế toàn cầu:

Tác động đến thị trường và nhà bán lẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trường thương mại điện tử đang tăng trưởng với tốc độ đáng chú ý. Thị trường trực tuyến đã tăng trung bình 20% mỗi năm trong giai đoạn 2015 – 2019.[19] Năm 2019, doanh số bán lẻ thương mại điện tử trên toàn thế giới lên tới 3.46 nghìn tỷ đô la Mỹ [20] và doanh thu bán lẻ điện tử được dự đoán sẽ tăng lên hơn 4,5 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2021. Trong khi thị trường truyền thống chỉ dự kiến tăng trưởng 2% trong cùng thời gian. Các nhà bán lẻ truyền thống đang gặp khó khăn vì khả năng của nhà bán lẻ trực tuyến để cung cấp giá thấp hơn và hiệu quả cao hơn. Những nhà bán lẻ lớn hơn có thể duy trì các cửa hàng truyền thống và mở rộng sang trực tuyến bằng cách liên kết các dịch vụ trực tuyến. Thương mại điện tử cho phép khách hàng vượt qua các rào cản địa lý và cho phép họ mua sản phẩm mọi lúc mọi nơi. Thị trường trực tuyến và truyền thống có các chiến lược khác nhau để tiến hành kinh doanh. Các nhà bán lẻ truyền thống cung cấp ít loại sản phẩm hơn vì không gian trưng bày hạn chế, các nhà bán lẻ trực tuyến thường không có hàng tồn kho mà gửi đơn đặt hàng của khách hàng trực tiếp đến nhà sản xuất. Các chiến lược giá cũng khác nhau cho các nhà bán lẻ truyền thống và trực tuyến. Các nhà bán lẻ truyền thống dựa trên giá của sản phẩm và chi phí để giữ hàng tồn kho. Các nhà bán lẻ trực tuyến lại dựa trên tốc độ giao hàng.

Tác động trực tiếp đến marketing[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quảng bá sản phẩm

Thương mại điện tử tăng cường quảng bá sản phẩm và dịch vụ thông qua sự giàu có về thông tin và khả năng tương tác với khách hàng.

  • Kênh bán hàng mới

Thương mại điện tử tạo ra một kênh phân phối mới cho các sản phẩm hiện có.

  • Giảm chu kỳ thời gian

Việc phân phối các sản phẩm và dịch vụ số hóa có thể giảm xuống còn vài giây. Ngoài ra, công việc hành chính liên quan đến giao hàng, đặc biệt là qua biên giới quốc tế, có thể được giảm đáng kể.

  • Dịch vụ khách hàng

Dịch vụ khách hàng có thể được tăng cường đáng kể bằng cách cho phép khách hàng tìm thông tin chi tiết trực tuyến. Ngoài ra, các công cụ quản lý thông minh có thể trả lời các câu hỏi và email thông thường trong vài giây. Các dịch vụ cao cấp hơn có thể được hỗ trợ bằng các phần mềm.

  • Hình ảnh của doanh nghiệp

Trên web, người mới có thể thiết lập hình ảnh của công ty rất nhanh. Hình ảnh công ty tạo ra sự tin tưởng của khách hàng, cần thiết cho việc bán hàng trực tiếp. Các công ty truyền thống như Intel, Disney, DellCisco sử dụng các hoạt động web của họ để khẳng định bản sắc công ty và hình ảnh thương hiệu của họ.

  • Tùy biến và cá nhân hóa

Thương mại điện tử cung cấp tùy biến các sản phẩm và dịch vụ, ngược lại so với các phương thức mua hàng truyền thống như mua trong cửa hàng hoặc đặt hàng từ TV, thường giới hạn ở các sản phẩm tiêu chuẩn.

  • Quảng cáo

Với marketing trực tiếp theo đối tượng mang lại hiệu quả hơn nhiều so với quảng cáo đại chúng. Điều này tạo ra một sự thay đổi cơ bản trong cách thức quảng cáo được thực hiện không chỉ cho các giao dịch trực tuyến mà còn cho các sản phẩm và dịch vụ được đặt hàng theo cách truyền thống.

  • Hệ thống đặt hàng

Tiếp nhận đơn đặt hàng từ khách hàng có thể được cải thiện mạnh mẽ nếu nó được thực hiện trực tuyến. Khi được thực hiện bằng điện tử, các đơn đặt hàng có thể nhanh chóng được xử lý nhanh chóng . Điều này giúp tiết kiệm thời gian và giảm chi phí, vì vậy những người bán hàng có nhiều thời gian hơn để bán hàng. Ngoài ra, khách hàng có thể tính toán chi phí cho đơn hàng của mình, tiết kiệm thời gian cho tất cả các bên liên quan.

Tác động đến tổ chức doanh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học hỏi về công nghệ và tổ chức

Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử sẽ buộc các công ty thích ứng nhanh với công nghệ mới và cung cấp cho họ cơ hội thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và quy trình mới. Công nghệ mới đòi hỏi cách tiếp cận tổ chức mới. Ví dụ, cấu trúc của tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử có thể phải khác với các bộ phận marketing và bán hàng thông thường. Để linh hoạt hơn và đáp ứng thị trường, các quy trình mới phải được đưa ra.

  • Thay đổi bản chất công việc

Bản chất của công việc sẽ được chuyển đổi trong thời đại kỹ thuật số, nó đã xảy ra trước mắt chúng ta được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh gia tăng trên thị trường toàn cầu, các công ty đang giảm số lượng nhân của mình viên xuống và thuê ngoài bất cứ công việc nào ở những quốc gia có chi phí thấp hơn.

  • Khả năng cung cấp các sản phẩm mới

Thương mại điện tử cho phép tạo ra các sản phẩm mới và các sản phẩm hiện có được tùy biến theo những cách sáng tạo. Những thay đổi như vậy có thể xác định lại các tổ chức nhiệm vụ của tổ chức và cách thức hoạt động của họ. Thương mại điện tử cũng cho phép các nhà cung cấp thu thập dữ liệu cá nhân về khách hàng. Xây dựng hồ sơ khách hàng cũng như thu thập dữ liệu về một số nhóm khách hàng nhất định, có thể được sử dụng làm nguồn thông tin để cải thiện sản phẩm hoặc thiết kế những sản phẩm mới. Tùy biến đại chúng cho phép các nhà sản xuất tạo ra các sản phẩm cụ thể cho từng khách hàng, dựa trên nhu cầu chính xác của họ. Ví dụ, Motorola tập hợp nhu cầu của khách hàng cho máy nhắn tin hoặc điện thoại di động, truyền chúng đến nhà máy sản xuất nơi họ sản xuất, cùng với thông số kỹ thuật của khách hàng và sau đó gửi sản phẩm cho khách hàng trong vòng một ngày.

Tác động đến các nhà sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ thống sản xuất được tích hợp với tài chính, marketing và các hệ thống chức năng khác, cũng như với các đối tác kinh doanh và khách hàng. Sử dụng hệ thống ERP dựa trên web, các đơn đặt hàng được lấy từ khách hàng có thể được chuyển đến các nhà thiết kế và đến sàn sản xuất, trong vòng vài giây. Thời gian chu kỳ sản xuất bị cắt giảm 50% hoặc nhiều hơn trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi việc sản xuất được thực hiện ở một quốc gia khác với nơi các nhà thiết kế và kỹ sư làm việc.

Tác động đến tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử đòi hỏi hệ thống tài chính kế toán đặc biệt. Hệ thống thanh toán truyền thống là không hiệu quả hoặc không hiệu quả cho thương mại điện tử. Việc sử dụng các hệ thống thanh toán mới như tiền điện tử rất phức tạp vì nó liên quan đến các vấn đề pháp lý và thỏa thuận về tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, tiền điện tử đang thay đổi cách thức thanh toán được thực hiện. Theo nhiều cách, tiền điện tử, có thể được hỗ trợ bởi tiền tệ hoặc các tài sản khác, đại diện cho cuộc cách mạng lớn nhất về tiền tệ kể từ khi vàng, bạc thay thế cho vỏ sò. Sự đa dạng và đa nguyên của nó là hoàn toàn phù hợp với internet. Nó có thể thay đổi thói quen về tài chính của người tiêu dùng và làm lung lay nền tảng của hệ thống tài chính và thậm chí cả chính phủ.

Tác động đến chuỗi cung ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử và internet đang thay đổi căn bản bản chất của chuỗi cung ứng và xác định lại cách người tiêu dùng tìm hiểu, lựa chọn, mua và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ. Kết quả là sự xuất hiện của chuỗi cung ứng kinh doanh mới cho doanh nghiệp tập trung vào người tiêu dùng thay vì tập trung vào sản phẩm. Họ cũng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ được tùy biến và cá nhân hóa . Thương mại điện tử tác động đến quản lý chuỗi cung ứng trong nhiều khía cạnh khác nhau bao gồm:

  • Hiệu quả chi phí

Thương mại điện tử cho phép các công ty vận tải thuộc mọi quy mô trao đổi tài liệu điện tử của hàng hóa qua internet. Thương mại điện tử cho phép các chủ hàng, giao nhận vận tải và các công ty vận tải đường bộ hợp lý hóa việc xử lý tài liệu mà không cần đầu tư tiền và thời gian theo yêu cầu của các hệ thống trao đổi tài liệu truyền thống. Bằng cách sử dụng thương mại điện tử, các công ty có thể giảm chi phí, cải thiện độ chính xác của dữ liệu, hợp lý hóa quy trình kinh doanh, đẩy nhanh chu kỳ kinh doanh và tăng cường dịch vụ khách hàng. Các hãng vận tải biển và các đối tác thương mại của họ có thể trao đổi các vận đơn, hóa đơn vận chuyển hàng hóa, thông báo trạng thái hàng hóa và các tài liệu khác với độ chính xác và hiệu quả cao hơn.

  • Thay đổi trong hệ thống phân phối

Thương mại điện tử sẽ giúp các doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc quản lý sự di chuyển ngày càng phức tạp của các sản phẩm và thông tin giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng của họ. Thương mại điện tử sẽ liên kết giữa khách hàng và trung tâm phân phối hơn. Khách hàng có thể quản lý sự di chuyển ngày càng phức tạp của sản phẩm và thông tin thông qua chuỗi cung ứng.

  • Định hướng khách hàng

Thương mại điện tử là một liên kết quan trọng trong việc hỗ trợ các dịch vụ hậu cần và vận chuyển cho cả khách hàng nội bộ và bên ngoài. Thương mại điện tử sẽ giúp các công ty cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng của họ, thúc đẩy sự phát triển của các sáng kiến thương mại điện tử quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của họ và giảm chi phí hoạt động. Sử dụng Internet cho thương mại điện tử sẽ cho phép khách hàng truy cập thông tin về giá, đặt hàng giao hàng, theo dõi lô hàng và thanh toán hóa đơn vận chuyển. Bằng cách cung cấp thêm thông tin về khía cạnh thương mại của các công ty, các doanh nghiệp sẽ biến trang web của họ thành nơi mà khách hàng không chỉ nhận được thông tin chi tiết về các dịch vụ mà công ty cung cấp, mà còn là nơi họ thực sự có thể thực hiện kinh doanh với công ty.

Những xu hướng của thương mại điện tử trong thời gian sắp tới[21][sửa | sửa mã nguồn]

  • Bán hàng trực tuyến sẽ phát triển hơn

Thương mại điện tử là hoạt động trực tuyến phổ biến nhất và đã phát triển theo cấp số nhân. Bán hàng trực tuyến được dự đoán sẽ đạt 4,5 nghìn tỷ đô la vào năm 2021. Sự phổ biến này bắt nguồn từ sự dễ dàng và thoải mái mà mua sắm trực tuyến mang lại, khiến ngày càng nhiều người thay thế hình thức mua sắm truyền thống bằng hình thức mua sắm trực tuyến. Bên cạnh đó, niềm tin của người tiêu dùng vào mua hàng trực tuyến đã tăng lên, thúc đẩy hơn nữa doanh số bán hàng trực tuyến. Người ta có thể xác nhận sự tăng trưởng này bằng cách nhìn vào số liệu thống kê thương mại điện tử hiện tại. Ngày nay, các trang web thương mại điện tử thân thiện với người dùng hơn, cung cấp cho khách hàng trải nghiệm mua sắm trực tuyến tốt nhất. Các quy trình liên quan đến mua sắm trực tuyến cũng đã được cải thiện, cho phép khách hàng tìm và chọn các mặt hàng họ muốn một cách dễ dàng và thanh toán bằng nhiều tùy chọn thanh toán. Thời đại mua sắm trực tuyến đang đến, không giống như trước đây khi mọi người còn nghi ngại khi nhắc đến mua sắm trực tuyến.

  • Tùy biến bao bì và đóng gói

Theo báo cáo của Global Market Research and Public Opinion Specialist, [22] 72% người tiêu dùng Mỹ cho biết quyết định mua hàng của họ bị ảnh hưởng bởi bao bì, đóng gói, họ đánh đồng bao bì với chính thương hiệu. Bao bì trông càng đẹp thì càng có nhiều khả năng họ sẽ mua hàng. Đó cũng là một thực tế rằng hầu hết người tiêu dùng trở nên hào hứng hơn về các sản phẩm có bao bì độc đáo. Vì vậy, không có gì phải đắn đo khi người bán hàng trực tuyến cần tùy biến bao bì, đóng gói sản phẩm của họ. Làm như vậy có thể giúp sản phẩm của họ nổi bật. Đối với những người đang có kế hoạch tùy biến bao bì sản phẩm của mình, có thể làm như vậy bằng cách tập trung vào các khía cạnh khác nhau của bao bì. Bạn có thể làm nổi bật độ bền của bao bì, tính thẩm mỹ và thậm chí chỉ ra cho khách hàng của bạn rằng bao bì của bạn thân thiện với môi trường. Làm như vậy sẽ hỗ trợ thêm trong việc xây dựng thương hiệu.

  • Sự tăng trưởng mua hàng qua điện thoại di động

Sự gia tăng trong mua sắm qua điện thoại di động là một xu hướng thương mại điện tử đáng chú ý khác. Doanh số từ thương mại di động được dự báo là tăng 15% vào cuối năm 2021. Hơn thế nữa, doanh số bán hàng qua điện thoại di động sẽ chiếm 73% tổng doanh số của thương mại điện tử.[23]Chỉ cần nhìn vào các số liệu thống kê này, thật dễ dàng để thấy việc mua sắm trên thiết bị di động quan trọng như thế nào đối với các công ty thương mại điện tử trong những năm tới. Các thiết bị di động đã tràn ngập thị trường trong những năm gần đây, dẫn đến sự gia tăng số lượng người sử dụng chúng. Và người dùng không chỉ sử dụng thiết bị di động để mua sắm mà còn tìm hiểu các sản phẩm trước khi quyết định mua.

  • Cá nhân hóa đa kênh

Cá nhân hóa sự tương tác của khách hàng đã trở thành một phần của quá trình bán hàng. Xu hướng này đã trở thành một yếu tố chính trong các công ty thương mại điện tử vì nó có thể cải thiện trải nghiệm của khách hàng. Tuy nhiên, có rất nhiều cách để tận dụng cá nhân hóa. Hãy tưởng tượng tích hợp khái niệm này với bán hàng đa kênh. Bây giờ, chúng tôi biết rằng bán hàng đa kênh tạo ra nhiều cơ hội để liên kết với khách hàng. Nếu bạn có thể cải thiện nó bằng cách cung cấp các tương tác cá nhân hóa, kết quả có thể nâng cao lòng trung thành của khách hàng và do đó, quá trình mua hàng được lặp lại. Việc thiết lập như vậy hoạt động bằng cách đảm bảo rằng các khách hàng cá nhân có được trải nghiệm thương hiệu được cá nhân hóa giống nhau bất kể họ đang sử dụng kênh nào. Điều này cũng đảm bảo rằng bạn cung cấp cho khách hàng của bạn những trải nghiệm có liên quan, loại bỏ sự làm phiền khách hàng của bạn bằng những thông điệp không liên quan.

  • Quy trình thanh toán thuận tiện hơn

Thanh toán là một phần trong mọi hành trình của khách hàng và đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi. Điều này là do khách hàng có thể quyết định hủy mua hàng ngay cả vào phút cuối. Từ bỏ mua hàng vào phút cuối là rất thực tế, một trong những lý do được trích dẫn nhiều nhất là có một quá trình thanh toán phức tạp. Nếu bạn muốn cửa hàng trực tuyến của mình trở nên cạnh tranh hơn, bạn nên đưa ra một quy trình thanh toán đơn giản bao gồm các tùy chọn thanh toán dễ dàng. Đối với những người thực hiện kinh doanh trên quy mô toàn cầu, nên hợp nhất tất cả các khoản thanh toán vào một nền tảng duy nhất.

Đây là thời gian để nắm lấy bán hàng đa kênh. Người tiêu dùng đã mua hàng từ những người bán hàng trực tuyến khác nhau, bao gồm Amazon, eBay… Xu hướng này là không thể tránh khỏi khi các công ty thương mại điện tử chắc chắn sẽ phát triển và cùng với sự tăng trưởng là sự tích hợp kiểm soát hàng tồn kho. Người bán hàng trực tuyến tham gia vào các thị trường mới cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển khi họ tìm kiếm các kênh mới để tiếp cận các đối tượng mới. Sau đây là một số thống kê về thương mại điện tử:

  • 46,7% của tất cả các tìm kiếm trực tuyến bắt đầu với những địa điểm như Etsy, Amazon và eBay. [24]
  • 51% hàng hóa được bán trên Amazon đến từ người bán bên thứ ba. [25]
  • 1,5% - Tỷ lệ thị phần thương mại điện tử trên tổng doanh số bán lẻ đang tăng lên.[26]
  • 37% - Tỷ lệ thị phần của Amazon trên thị trường mua sắm trực tuyến tại vương quốc Anh. [27]
  • 37% người tiêu dùng sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để tìm hiểu về sản phẩm và thương hiệu.[28]
  • Mua sắm bằng giọng nói

Mua sắm bằng giọng nói đã bùng nổ ở Hoa Kỳ và sẽ tiếp tục như vậy trong những năm tới. Số lượng người mua bằng giọng nói dự kiến sẽ tăng thêm 55% vào năm 2022. Sự tăng trưởng của mua sắm bằng giọng nói bắt nguồn từ sự ra mắt của Amazon loa thông minh Echo. Không giống như mua sắm bằng cách truy cập các trang web, mua sắm bằng giọng nói có thể tạo ra một chút khó khăn đối với một số người. Khách hàng chỉ cần mô tả sản phẩm họ muốn mua. Các sản phẩm phổ biến mà người mua bằng giọng nói mua bao gồm đồ gia dụng, thực phẩm và đồ điện tử giá rẻ. Các nhà bán hàng trực tuyến được khuyến khích xem xét xu hướng này và tìm cách cung cấp cho khách hàng sự thoải mái mà họ cần khi mua sắm bằng giọng nói.

  • Tập trung vào người tiêu dùng xanh

Theo một khảo sát 73% người tiêu dùng tìm kiếm các sản phẩm thân thiện với môi trường liên quan đến dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cá nhân. [29] Thân thiện với môi trường được xem là có ảnh hưởng đến doanh số bán hàng trực tuyến. Các thương hiệu dự kiến sẽ thúc đẩy làn sóng tiêu dùng xanh, nhiều người tiêu dùng thừa nhận bị ảnh hưởng bởi các mối quan tâm về môi trường khi quyết định mua hàng. Trọng tâm đổi mới về tính môi trường bền vững là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy người bán hàng trực tuyến phải đẩy mạnh bằng cách tuân thủ các quy tắc thân thiện với môi trường. Các công ty có thể làm điều này bằng cách đảm bảo rằng một môi trường bán hàng trực tuyến xanh hơn được thiết lập bằng cách tìm nguồn cung ứng sản phẩm chỉ từ các tổ chức thương mại công bằng. Một điều nữa thúc đẩy chủ nghĩa tiêu dùng xanh là sự xuất hiện của thế hệ Millennials như một nhóm người mua hàng mạnh mẽ. Các thành viên của thế hệ này rất quan tâm đến các sản phẩm thân thiện với môi trường. Nhu cầu về các sản phẩm xanh này đang thúc đẩy các công ty thương mại điện tử áp dụng các quy tắc môi trường.

Ngày càng có nhiều tổ chức đã chuyển sang trí tuệ nhân tạo (AI) để cải thiện quy trình và quy trình làm việc của họ. Và các công ty thương mại điện tử cũng không ngoại lệ. Các nhà bán lẻ là một trong những người đầu tiên nhận ra lợi ích của việc đưa AI vào kho vũ khí công nghệ của họ. Không có gì ngạc nhiên khi những người bán hàng trực tuyến được cho là sẽ chi 7,3 tỷ đô la cho AI vào năm 2022.[30]Động lực thúc đẩy sự gia tăng này là các nhà bán lẻ thúc đẩy để cung cấp trải nghiệm cá nhân hóa cho khách hàng.

Phương tiện truyền thông mạng xã hội không chỉ còn là kênh mà mọi người kết nối với nhau. Phương tiện truyền thông mạng xã hội đã phát triển như một công cụ marketing, cho phép các thương hiệu mở rộng đối tượng mục tiêu của họ. Các nền tảng như InstagramFacebook đã được trang bị các tính năng mua hàng, cho phép các nhà bán lẻ bán hàng thông qua chúng. Các cửa hàng trực tuyến cũng đã được thiết lập liên kết với các nền tảng truyền thông xã hội, cho phép khách hàng thực hiện mua hàng. Hầu hết các nền tảng truyền thông xã hội đã tập trung vào việc phục vụ cho người mua sắm trực tuyến. Nhưng quan trọng hơn, phương tiện truyền thông xã hội đã trở thành một kênh mà các thương hiệu có thể nhận được tiếp xúc tối ưu với khách hàng. Kết quả tiếp xúc với phương tiện truyền thông xã hội giúp nhiều người biết đến sản phẩm hoặc dịch vụ hơn. Đó là lý do tại sao nó sẽ làm cho các công ty thương mại điện tử tốt để đưa ra các chiến lược marketing qua mạng xã hội.

Thương mại điện tử tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trường thương mại điện tử năm 2019[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2019, cả nước có 39,9 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến, tăng 11,8% so với năm 2018 và tăng gần gấp đôi chỉ sau 3 năm. Giá trị mua sắm trực tuyến bình quân đầu người đạt 202 USD.[31] Theo báo cáo thương mại điện tử của Iprice năm 2019, [32] cho thấy Shopee Việt Nam tiếp tục dẫn đầu trong cả năm 2019 về lượng truy cập website, đạt trung bình 33,6 triệu lượt/tháng. Theo sau lần lượt là Thegioididong, Sendo, Tiki và Lazada. Báo cáo của iPrice xếp hạng các ứng dụng thương mại điện tử được sử dụng nhiều nhất năm 2019. Trong đó, top 4 là Shopee, Lazada, Tiki và Sendo được giữ nguyên trong suốt cả năm, mặc cho sự cạnh tranh từ các ứng dụng ngoại mới xuất hiện và được tải xuống nhiều như SHEIN và Wish, cho thấy độ trung thành cao của người tiêu dùng với các ứng dụng thương mại điện tử. Trên nền tảng website cũng có hiện tượng tương tự. Khi phân tích hành vi khách hàng, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng có đến 45% số khách hàng truy cập vào các sàn thương mại điện tử bằng cách gõ trực tiếp địa chỉ website vào trình duyệt chứ không cần tìm trên Google hay click vào quảng cáo. Con số này cao hơn nhiều so với trung bình toàn cầu là 27,49% (theo SimilarWeb, 2019). Như vậy, mua sắm trực tuyến trên các sàn thương mại điện tử nay đã trở thành một phản xạ đối với người tiêu dùng Việt Nam. Mỗi khi xuất hiện nhu cầu, họ sẽ mở ứng dụng yêu thích hoặc gõ địa chỉ website và truy cập ngay chứ ít phải đắn đo tìm kiếm hoặc lựa chọn như trước.

Chỉ số thương mại điện tử tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) đã tiến hành hoạt động xây dựng Chỉ số thương mại điện tử lần đầu tiên vào năm 2012. Chỉ số thương mại điện tử (viết tắt là EBI từ tiếng Anh E-Business Index) được xây dựng theo các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương dựa trên bốn nhóm tiêu chí lớn:

  • Nhóm thứ nhất là nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin.
  • Nhóm thứ hai là giao dịch doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C).
  • Nhóm thứ ba là giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B).
  • Nhóm thứ tư là giao dịch giữa chính phủ với doanh nghiệp (G2B).

Chỉ số Thương mại điện tử giúp các đối tượng nhanh chóng xác định được mức độ triển khai thương mại điện trên phạm vi cả nước cũng như tại từng địa phương, sự tiến bộ qua các năm và gợi ý cho mỗi địa phương những giải pháp cần thiết để nâng cao ứng dụng thương mại điện tử. Từ năm 2012, VECOM liên tục công bố Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử cho mỗi năm. Báo cáo năm 2015 đã gợi ý từ năm 2016 thương mại điện tử sẽ bước sang giai đoạn phát triển nhanh. Theo VECOM, giai đoạn một từ 1998 đến hết năm 2005 là giai đoạn hình thành thương mại điện tử ở Việt Nam. Giai đoạn hai bắt đầu từ năm 2006 đến hết năm 2015 là giai đoạn phổ cập với xấp xỉ một nửa dân số truy cập Internet và đông đảo dân chúng, đặc biệt là dân thành thị và giới trẻ đã mua sắm trực tuyến. Báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2019 [33] cho thấy vẫn còn nhiều cản trở cho sự bứt phá trong giai đoạn tới. Dịch vụ logistics – giao hàng chặng cuối – hoàn tất đơn hàng còn nhiều hạn chế, . Dù có đến 70% trở lên người mua hàng trực tuyến sử dụng hình thức thanh toán dịch vụ thu hộ người bán (COD) nhưng tỷ lệ người mua hoàn trả sản phẩm đã đặt hàng trực tuyến cao. Ước tính tỷ lệ trung bình tổng giá trị của các sản phẩm hoàn trả so với tổng giá trị đơn hàng lên tới 13%. Có doanh nghiệp phải chịu tỷ lệ này ở mức 26%. Theo Ước tính Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh chiếm tới 70% giao dịch thương mại điện tử. Quy mô thương mại điện tử ở các địa phương khác, đặc biệt ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa rất nhỏ. Trong khi đó, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn. Khu vực nông thôn có tiềm năng tiêu thụ lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp sản phẩm đa dạng phù hợp với bán hàng trực tuyến. Sau đây là số liệu chỉ số thương mại điện tử của các thành phố lớn trong cả nước:

  • Năm 2019 chỉ số Thương mại điện tử của Tp.Hồ Chí Minh là : NLL&HT : 86.8 ; G2B: 84.2; B2B: 87.3; B2C: 87.2 . Tp. Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu với điểm tổng hợp là 86,8 điểm và tăng 4,7 điểm so với năm 2018. Đặc biệt điểm số này cao hơn rất nhiều so với điểm số trung bình của Chỉ số Thương mại điện tử trong cả nước (40,3 điểm) và cao hơn tới gần 60 điểm so với địa phương có điểm xếp hạng thấp nhất là Bắc Kạn(27,4 điểm).
  • Đứng thứ hai là Hà Nội với các chỉ số lần lượt là : NLL&HT: 88.4; G2B: 77.7; B2B: 82.5; B2C: 85.8. Điểm tổng hợp là 84,3 điểm và cao hơn 4,5 điểm so với năm trước.
  • Hải Phòng vươn lên vị trí thứ 3 về Chỉ số Thương mại điện tử với các chỉ số : NLL&HT: 45.1; G2B: 75.5; B2B: 50.4; B2C: 72.5. Tổng điểm số là 59,6 điểm và tăng 4,7 điểm so với năm trước. Tuy nhiên mức độ chênh lệch giữa các điểm chỉ số thành phần của Hải Phòng với các điểm trung bình không cao như Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh
  • Ở vị trí thứ 4 là Đà Nẵng với các chỉ sổ : NLL&HT: 44.8; G2B: 74.1; B2B: 52.4; B2C: 65.0 . Tổng điểm là 57,5 điểm và tăng 3,4 điểm so với năm ngoái

Nhìn chung top 4 tỉnh thành xếp đầu bảng năm 2019 vẫn tiếp tục duy trì không có sự thay đổi nào.Tuy nhiên mặc dù là top 4 tỉnh thành xếp đầu nhưg khoảng cách giữa Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội với 3 tỉnh thành còn lại cũng rất lớn, điển hình là khoảng cách giữa Hà Nội (xếp thứ 2) với Hải Phòng (xếp thứ 3) lên tới 24,7 điểm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1], Electronic Commerce: Definition, Theory and Context
  2. ^ [2] “Electronic commerce”, WTO, truy cập ngày 20/5/2020.
  3. ^ [3], “Definition: E-Commerce", APEC, truy cập ngày 20/5/2020.
  4. ^ [4], Neil A. Gordon và Mike Brayshaw (Tháng 1-2006). “E-commerce And E-business: A New Paradigm Or Old Business In New Clothes?”, truy cập 20/05/2020.
  5. ^ [5], truy cập 20/05/2020
  6. ^ [6], Bunnell, David (2001). "The EBay Business Model"
  7. ^ [7], "eBay acquires PayPal", truy cập 20/5/2020.
  8. ^ [8], "R.H. Donnelley Acquires Business.com for $345M". Domain Name Wire. Truy cập 20/5/2020
  9. ^ [9], “Amazon Buys Zappos; The Price is $928m., not $847m”. Techcrunch.Truy cập 20/5/2020
  10. ^ [10], “eBay Acquires GSI Commerce For $2.4 Billion In Cash And Debt”. Techcruch. Truy cập 20/5/2020
  11. ^ [11], “US Online Retail Forecast, 2011 To 2016”. Forrester Research, Inc. Truy cập 20/5/2020.
  12. ^ [12], "Amazon will account for more than half of 2015 e-commerce growth, says Macquarie". Market Watch. Truy cập 20/5/2020
  13. ^ [13], “Global E-commerce sales to reach nearly $3.46 trillion in 2019”. Digitalcommerce. Truy cập 20/5/2020
  14. ^ [14], Panagiotis Leliopoulos (2013). “Business to Consumer (B2C) E-Commerce Decade Evolution”, truy cập 20/5/2020
  15. ^ [15], Sekerin, V.D. & Avramenko, S.A. & Veselovsky, M.Y. & Aleksakhina, V.G.. (2014). “B2G market: The essence and statistical analysis”, truy cập 20/5/2020.
  16. ^ [16], Rassool, Reza (2018). "T-commerce-one-click buying", truy cập 20/5/2020.
  17. ^ [17], Rassool, Reza (2018). "T-commerce-one-click buying", truy cập 20/5/2020.
  18. ^ Ruhaniika S,[18],E-Commerce,truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  19. ^ J. Clement,[19],Retail e-commerce sales worldwide from 2014 to 2023, phát hành ngày 19 tháng 3 năm 2020, truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020
  20. ^ Jessica Young,[20],Global ecommerce sales to reach nearly $3.46 trillion in 2019, phát hành ngày 13 tháng 11 năm 2019, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  21. ^ Jenny Chang,[21], 10 Future Ecommerce Trends & Forecasts for 2020/2021 – A Look Into What’s Next, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  22. ^ Gil Niv và David Harris,[22], phát hành ngày 2 tháng 5 năm 2018, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  23. ^ J. Clement, [23],Global mobile retail commerce sales share 2016-2021 ,phát hành ngày 7 tháng 10 năm 2019, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  24. ^ Krista Garcia,[24],More Product Searches Start on Amazon, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  25. ^ Emily Dayton,[25],truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  26. ^ [26], truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  27. ^ Wunderman Thompson,[27],AMAZON: KING OF THE JUNGLE, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  28. ^ Katie Young,[28],Product Research on Social Media Rising, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  29. ^ Chris Beer,[29], Sustainability is a Key Concern for Eco-Conscious Consumers, phát hành ngày 25 tháng 7 năm 2018 truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  30. ^ Dan Alaimo,[30],Retail spending on AI to reach $7.3B by 2022, công bố ngày 1 tháng 2 năm 2018, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020
  31. ^ Nguyễn Hiền,[31], andrews.edu.vn,Báo cáo Digital Marketing Việt Nam năm 2020: Quy mô thị trường có thể lên đến 13 tỷ USD!, truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020
  32. ^ chú thích web|[32],iprice.vn,truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020
  33. ^ [33], Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]