Cisco Systems

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm



Cisco Systems, Inc.
Loại hình
Công ty đại chúng
Mã niêm yết
Ngành nghềPhần cứng mạng máy tính & Phần mềm mạng máy tính
Thành lập10 tháng 12, 1984; 34 năm trước tại San Francisco, California, Hoa Kỳ
Người sáng lập
Trụ sở chínhSan Jose, California, Hoa Kỳ[1]
Khu vực hoạt độngToàn cầu
Nhân viên chủ chốt
Doanh thu
  • Increase 12.77 tỷ USD (2018)[2]
  • giảm 110 triệu USD (2018)[2]
Tổng tài sản
  • giảm 108.78 tỷ USD (2018)[2]
Tổng vốn chủ sở hữu
  • giảm 43.20 tỷ USD (2018)[2]
Số nhân viên
74.200 (2018)[2]
Websitecisco.com

Tập đoàn Hệ thống Cisco được thành lập năm 1984 bởi hai nhà khoa học về máy tính và bắt đầu trở nên nổi tiếng năm 1990. Sản phẩm đầu tiên của công ty là "Bộ định tuyến", kết nối với phần mềm và phần cứng hoạt động như hệ thống giao thông trên tổ hợp mạng TCP/IP1 để tạo ra mạng Internet (Giống trong các doanh nghiệp gọi là Intranet – Mạng nội bộ).

Với sự phát triển của công nghệ Internet, nhu cầu về các sản phẩm của Cisco bùng phát và nhanh chóng công ty trở nên thống trị thị trường Internet. Vào năm 1997, đây là năm đầu tiên công ty được lọt vào Bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ tính theo tổng thu nhập. Theo đó, Cisco được bầu chọn trong top 5 công ty lớn nhất về chỉ số về lợi nhuận trên tổng tài sản và lợi nhuận trên doanh thu. Chỉ có hai cong ty khác là Intel và Microsoft cũng từng đạt được thành tựu đó.

Vào ngày 17 tháng 7 năm 1998, sau 14 năm thành lập, vốn hóa thị trường của Cisco đã vượt qua mốc 100 triệu USD (gấp 15 lần doanh thu năm 1997). Một số chuyên gia trong ngành công nghiệp này đã nhận định rằng Cisco sẽ là một trong 3 công ty lớn nhất – song song với Microsoft và Intel – góp phần hình thành nên cuộc cải cách kỹ thuật số.

Ông Don Valentine, đối tác của Sequoia Capital và Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Cisco, là người đầu tiên đầu tư vào Cisco. Ông đã nắm lấy cơ hội đầu tư công ty non trẻ này trong khi các chuyên gia tài chính khác tỏ ra rất thận trọng. Cách mà Valentine có thể đảm bảo được khoản đầu tư ban đầu của mình 2,5 triệu USD là duy trì quyền điều hành doanh nghiệp khi ông thấy là thích hợp.

Vào năm 1998, Valentine đã thuê John Morgride làm Giám đốc điều hành. Morgride là chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp máy tính, nên ngay lập tức ông bắt tay vào việc xây dựng đội ngũ quản lý chuyên nghiệp. Đội ngũ này nhanh chóng có những xung đột với những nhà sáng lập Cisco và, sau khi Cisco chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng vào năm 1990, cả hai nhà sáng lập đã bán hết số cổ phần của họ và rời khỏi công ty. Sự ra đi này đã khiến cho Morgride được tự do tiếp tục kế hoạch lắp đặt một cơ cấu điều hành hệ thống một các hoàn hảo.

Morgride tin tưởng rằng rất nhiều doanh nghiệp tại Thung Lũng Silicon sẽ phân quyền một cách nhanh chóng và ông không đánh giá cao khả năng minh chứng cho các cơ quan chức năng trong việc phát triển mà không cần có công cụ quản lý hoàn hảo. Theo đó, Morgride đã duy trì một tổ chức chức năng tập trung. Trong khi bộ phận Marketing Sản phẩm và bộ phận Nghiên cứu và Phát triển được phân quyền thành 3 "Hình thức kinh doanh" (Doanh nghiệp, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nhà cung cấp dịch vụ, thì Bộ phận sản xuất, hỗ trợ khách hàng, tài chính, nhân sự, công nghệ thông tin và các tổ chức kinh doanh được duy trì quản lý một cách tập trung.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Contact Cisco”. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2017. 
  2. ^ a ă â b c d “Cisco Systems, Inc. 2018 Annual Report Form (10-K)” (PDF). U.S. Securities and Exchange Commission. Tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]