Đập Hoover

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đập Hoover
Ansel Adams - National Archives 79-AAB-01.jpg
Đập Hoover bởi Ansel Adams, năm 1942
Tên chính thức Đập Hoover
Vị trí Quận Clark, Nevada / Quận Mohave, Arizona, Hoa Kỳ
Mục đích Năng lượng, kiểm soát lũ, lưu trữ nước, quy định, giải trí
Tình trạng Đang sử dụng
Khởi công 1931
Ngày khánh thành 1936
Chi phí xây dựng

49 triệu đô la (1931)

700 triệu đô la (2016)
Chủ sở hữu Chính phủ Hoa Kỳ
Điều hành Cục Khai hoang Hoa Kỳ
Đập và đập tràn
Loại đập Bê tông vòm trọng lực
Ngăn Sông Colorado
Chiều cao 726,4 ft (221,4 m)
Chiều dài 1,244 ft (0,379 m)
Độ cao ở đỉnh 1,232 ft (0,376 m)
Chiều rộng (đỉnh) 45 ft (14 m)
Chiều rộng (đáy) 660 ft (200 m)
Dung tích đập 3.250.000 cu yd (2.480.000 m3)
Loại đập tràn 2 kiểm soát cửa trống
Dung tích đập tràn 400,000 cu ft/s (11,3267 m3/s)
Hồ chứa
Tạo thành Hồ Mead
Tổng dung tích 28.537.000 acre·ft (35,200 km3)
Năng lực hoạt động 15.853.000 acre·ft (19,554 km3)
Năng lực không hoạt động 10.024.000 acre·ft (12,364 km3)
Diện tích lưu vực 167.800 sq mi (435.000 km2)
Diện tích bề mặt 247 sq mi (640 km2)[1]
Chiều dài tối đa 112 mi (180 km)
Độ sâu nước tối đa 590 ft (180 m)
Độ cao bình thường 1,219 ft (0,372 m)
Trạm năng lượng
Nhà điều hành Cục Khai hoang Hoa Kỳ
Ngày chạy thử 1936-1960
Đầu thủy lực 590 ft (180 m) (Tối đa)
Tua bin

13× 130 MW
2× 127 MW
1× 68.5 MW
1× 61.5 MW loại Francis
2× 2.4 MW loại Pelton

Đập Hoover
Trang web
Cục Khai hoang: Khu vực Hạ Colorado - Đập Hoover
Đập Hoover
Thành phố gần nhất Thành phố Boulder, Nevada
Tọa độ 36°0′56″B 114°44′16″T / 36,01556°B 114,73778°T / 36.01556; -114.73778Tọa độ: 36°0′56″B 114°44′16″T / 36,01556°B 114,73778°T / 36.01556; -114.73778
Xây/Thành lập 1933
Kiến trúc sư Sáu công ty, Inc. (kiến trúc), Gordon Kaufmann (mặt ngoài)
Kiểu kiến trúc Art Deco
MPS Các cầu xe cộ ở Arizona MPS (AD)
Số NRHP # 81000382
Significant dates
Đưa vào NRHP 8 tháng 4 năm 1981[2]
Công nhận NHL 20 tháng 8 năm 1985[3]

Đập Hoover, đã từng có tên gọi là đập Boulder, là một đập vòm bê tông trọng lực trong Black Canyon của sông Colorado, trên biên giới giữa các tiểu bang Arizona và Nevada của Hoa Kỳ. Nó được xây dựng giữa năm 1931 và năm 1936 trong cuộc Đại suy thoái. Việc xây dựng dập là kết quả của một nỗ lực to lớn liên quan đến hàng ngàn công nhân, và lấy đi hơn 100 sinh mạng. Đập được tranh cãi có tên trong danh dự của Tổng thống Herbert Hoover.

Sông Colorado rộng lớn với chiều dài 2.333 km, cung cấp nước tưới cho 1/12 ruộng đất nước Mỹ. Sông bắt đầu từ đầu nguồn thượng lưu dãy núi Rocheuses hướng về Tây Nam xuyên vượt sông Colorado, Utah và chảy qua khe sâu lớn, chảy vào bang New Mexico trước khi rót vào vịnh California, thành sông ranh giới giữa bang Arizona và bang Nevada, bang Arizona và bang Califonia. Sông Colorado là một con sông "dữ dội". Năm 1905, nó đột nhiên hoàn toàn thay đổi đường đi, hình thành nên hồ Sorton dài 77 km2, đe dọa đánh chìm lòng sông Inpiril bang California. Để khống chế và cải thiện điều kiện tưới nước, đồng thời dùng nó với mục đích phát điện, nhà chức trách quyết định xây dựng một đập nước lớn ở đoạn sông giáp giới bang Arizona và Nevada. Năm 1928, quốc hội xuất tiền, và công trình được khởi công vào năm 1931. Tổng thống lúc bấy giờ là Herbert Hoover hết sức quan tâm đến dự án này, quyết định lấy tên mình đặt là đập nước Hoover. Năm 1936, công trình xây xong, nhưng tổng thống Roosevelt gọi nó là đập nước Borde. Tên này được dùng mãi đến năm 1947, về sau quốc hội mới khôi phục lại tên cũ.

Để xây dựng đập nước này, người ta phải đào 8,2 triệu tấn nham thạch, với số lượng thép tương đương dùng để xây dựng Empire State Building. Nền đập dày 201 m, cao 221 m, suýt soát với độ cao của tòa nhà 70 tầng. Chỗ dựa sát vào phía Bắc đập nước đã thành hồ Mead, một trong những kho nước nhân tạo lớn nhất thế giới, với hình răng cưa không có quy tắc, dài 177 km, tuyến bờ hồ dài 1.323 km.

Ở phía Bắc hồ Meadcông viên quốc gia sa thạch đỏ rộng 14.165 ha. Sa thạch ở đây đang từ màu đỏ như lửa dần biến thành màu tím nhạt. Mưa gió xâm thực, sa thạch bị đẽo gọt thành dạng lọng tròn, tổ ong và các hình trạng lạ lùng độc đáo, giống như đầu và vòi của con voi lớn.

Khoảng 4.000 người đã tham gia xây dựng đập nước Hoover. Hoover nằm tại thị trấn Borde, một khu làng xinh xắn dễ chịu, với đủ nét đặc sắc của cả thành thị và thôn quê.

Những người chết do xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Có 112 trường hợp tử vong liên quan đến việc xây dựng đập nước. Việc đầu tiên là JG Tierney, một thanh tra, người đã bị chết đuối vào ngày 20 tháng 12 năm 1922, trong khi tìm kiếm một vị trí lý tưởng cho đập.[4] Cái chết cuối cùng trong danh sách tử vong chính thức của dự án xảy ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1935, khi một người trợ giúp, Patrick Tierney, con trai của JG Tierney, bị rơi từ một tháp. Bao gồm ba công nhân, một người vào năm 1932 và hai người vào năm 1933, người đã tự tử tại chỗ trong danh sách tử vong.[5][6][7] Có 96 ca tử vong xảy ra trong quá trình xây dựng tại công trường.  Trong số 112 trường hợp tử vong, 91 là nhân viên của công ty, 3 là nhân viên BOR, và 1 là một người tham gia vào khu vực công trường, với các nhân viên còn lại của nhiều nhà thầu khác nhau, không phải của Six Company.[8]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn cảnh đập nước qua ảnh rộng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Frequently Asked Questions: Lake Mead”. Bureau of Reclamation. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ “Inventory-Nomination form: Hoover Dam” (PDF). National Register of Historic Places. National Park Service. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ “Hoover Dam”. National Historic Landmark summary listing. National Park Service. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ "Fatalities"Essays. Bureau of Reclamation. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
  5. ^ DuTemple, Lesley (2003). The Hoover Dam. Twenty-First Century Books. p. 82. ISBN 0822546914.
  6. ^ "Fatalities at Hoover Dam"Desert Gazette. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  7. ^ "Hoover Dam: 1935 Fatalities"United States Bureau of Reclamation. Ngày 12 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  8. ^ Stevens 1988, p. 320
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “powerfaq” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.