Đền ông Hoàng Mười (Nghệ An)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đền Ông Hoàng Mười là một ngôi đền cổ kính và vô cùng linh thiêng tại làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền là khu di tích quý hiếm của tỉnh Nghệ An, có diện tích rộng lớn đến 10.615m2. Đền được xây dựng dưới Triều vua Lê Thần Tông, niên hiệu Đức Long, năm 1634. Là ngôi đền nổi tiếng ở Nghệ An thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười. Đền nằm ở một vị trí có cảnh quan đẹp, vừa trung tâm, vừa gắn với vùng du lịch Lâm viên Núi Quyết nên thu hút đông đảo du khách tìm về thắp hương và vãn cảnh đền.

Nhiều tài liệu viết về truyền thuyết Ông Hoàng Mười cho rằng Đức Thánh Hoàng Mười là con trai thứ mười của vua cha Thần Long Bát Hải Đại Vương và Đệ Nhất Thánh Mẫu Tiên Thiên Công chúa ở hồ Động Đình. Bát Hải Đại Vương vốn là Thiên Quan Đào Nguyên. Vậy Hoàng mười là Hoàng tử thứ mười của Thiên Quan Đại Vương Bát Hải, chứ không phải ngài có họ Hoàng. Tương truyền rằng, ông là một vị tướng có công trong cuộc kháng chiến khởi nghĩa Lam Sơn, ông hy sinh trong trận Âm Công đánh vào thành Lục Niên, Âm Công là một trận voi giã chiến, thuyền giả, ngài kéo quân đánh tập hậu làm quân Minh kinh hồn bạt vía. Ngài bị thương nặng chỉ kịp phi ngựa về đến quê nhà thì mất.

Triều Đình lấy làm thương tiếc nên lấy đất Âm Công – Quê hương ngài để tưởng nhớ công ơn. Nhà vua ban tặng cho ngài bốn câu thơ và đã ban tặng Ông Hoàng Mười 18 săc phong đều đang được lưu giữ trong đền.

Đế thích Long chương khai thái vận

Thiên sinh thân vũ dực hồng đồ

Sinh bất thư sinh, sinh nghĩa đảm

Tứ thủy vô tư, tứ trung can

(Tam dịch: Vua tặng sắc  phong mừng vận đẹp, Trời sinh tướng giỏi giúp non sông, sống chẳng sống thừa lòng nghĩa dũng, chết mà không chết dạ can trường)

Ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh “Đức Thánh Minh” là mệnh quan nằm trong đền thờ Tứ Phủ. Qua kháng chống pháp, chống Mĩ các tế khí: thần chủ, ngai, sắc, tượng thờ, chuông khánh….và đại bộ phận cột, kèo, xà, hạ của các tòa Đền được chuyển vào cất giữ trong làng Xuân Am. Năm 1995 Đền được dựng lại trên nền đất Mỏ Hạc xưa. Ngày 12/11/2002 Đền Đức Thánh Hoàng Mười được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An cấp “bằng di tích lịch sử - văn hóa” của tỉnh.

Hiện nay, toàn bộ khu di tích Mỏ Hạc Linh Từ gồm hai phần là Đền và Mộ.

Từ cầu sông Hạc rẽ theo hướng Đông, con đường rộng dẫn ta đến trước một dải Tam quan khá nguy nga soi bóng xuống dòng sông Cồn Mộc, luôn tĩnh lặng. Bước vào đền, du khách sẽ được chiêm ngưỡng chiếc chuông bằng đồng lớn do Tập Phúc cung tiến khắc bốn chữ đại tự “Mỏ Hạc Linh Từ” và hàng chữ “Tập Phúc tiến cung kim chung”. chính môn, với đôi cột quyết cao, trên mỗi đỉnh có hình con nghê ngước lên trời thẳm. Hai mắt ngoảnh ra đường khắc hai câu đối “Lê triều hiển hách Trung lương tướng; Nam Quốc xưng danh Thượng đẳng thần”. Tả, Hữu cũng là những chiếc cổng thấp hơn nhưng vẫn đường bệ với hàng hiên uy nghi ôm giữ lấy bức tạc môn có voi chầu, hổ phục với hai hàng chữ “Linh khí tại thiên, danh tại sử; Huân công ư quốc, đức ư dân”. Từ đó đi vào ta gặp Tả vu, Hữu vu; Lầu cô, Lầu cậu. Rồi ta bước dần lên Hạ điện, Trung điện và Thượng điện. Khu vực nào cũng được chạm trổ mỹ thuật, sơn son, thếp vàng, hương khói uy nghi. Đôi câu đối ở hàng hiên của Hạ điện “Sơn cao hai khoát sinh thành đức; Nghĩa cửu, thiên trường hiếu kính tâm”. Đôi câu đối phía trong của tòa thờ này “Đế tích văn chương khai thái vận; Thiên sinh thần vũ dực hồng đồ”. Đi vào phía trong Hạ điện ta lại gặp ba bức đại tự. Bức phải “Trần Triều hiển Thánh”, bức trái “Thượng Tuấn Tối Linh”, bức giữa “Anh Hàng Tú Khí”. Tại Trung điện ta gặp bức, bức phải “Đức Lưu Quang”, bức trái”Sự Như Ý”. Tại Thượng điện ta gặp hai bức,bức phải “Từ Tâm Quảng Tế”, bức trái “Mẫu Đức Anh Linh”.

Tại khu di tích đền Mỏ Hạc ở Xuân Am chỉ có mỗi một ngôi mộ duy nhất. Đó là “ Lăng Đức Hoàng Mười”. Mộ ở sát cạnh đền, về phía Đông, cách một lối đi phong quan với nhiều cây cảnh và cùng hướng ra con sông Mộc, trông rất bình yên và linh thiêng. Từ ngoài nhìn vào hiện lên trước mắt ta bức hoành phi tôn cao hàng chữ “Lăng Đức Hoàng mười”. Bước vào giữa hai cột quyết uy nghi khắc đôi câu đối đã gặp ở phía trong Hạ điện. Khu Mộ là Thượng điện Hạ Lăng, ghép bằng đá hoa cương, trông đồ sộ và tôn nghiêm. Đền và mộ kết hợp tổng thể hài hòa.Nơi đây là một nơi phong thủy hữu tình cho du khách tín ngưỡng đến viếng thăm, cúng lễ. Theo tín ngưỡng dân gian, là niềm tin vào thần linh thông qua lễ nghi gắn liền với tập tục, thói quen truyền thống trong nhân dân người Việt ta. Đó là một bộ phận cả văn hóa dân gian phản ánh ước nguyện của con người trong cuộc sống.


Địa Điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Đền Lăng Mộ Ông Hoàng Mười được xây dựng trên mảnh đất Mỏ Hạc Linh Từ xưa. Là một ngôi đền được phục dựng lại sau chiến tranh tàn phá vào năm 1995. Người dân còn nói ví von: " Đền Mới trên Đất Xưa " còn Đền Củi - Ông Hoàng Mười thì sau khi Đền Lăng bị tàn phá nặng nề thì Đền Củi được gây dựng để phục vụ tín ngưỡng cho nhân dân, người dân nói rằng " Đền Cũ trên Đất Mới ".

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều tài liệu viết về truyền thuyết Ông Hoàng Mười cho rằng Đức Thánh Hoàng Mười là con trai thứ mười của vua cha Thần Long Bát Hải Đại Vương và Đệ Nhất Thánh Mẫu Tiên Thiên Công chúa ở hồ Động Đình. Bát Hải Đại Vương vốn là Thiên Quan Đào Nguyên. Vậy Hoàng mười là Hoàng tử thứ mười của Thiên Quan Đại Vương Bát Hải, chứ không phải ngài có họ Hoàng. Tương truyền rằng, ông là một vị tướng có tài, Ông hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương, rất yêu thương và chăm lo cuộc sống của nhân dân nên được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh “Đức Thánh Minh”. Ông có công trong cuộc kháng chiến khởi nghĩa Lam Sơn, ông hy sinh trong trận Âm Công đánh vào thành Lục Niên, Âm Công là một trận voi giã chiến, thuyền giả, ngài kéo quân đánh tập hậu làm quân Minh kinh hồn bạt vía. Ngài bị thương nặng chỉ kịp phi ngựa về đến quê nhà thì mất. Truyền thuyết lưu truyền tại quê nhà Ông Mười thì trong trận chiến Ngài bị thương nặng, Ngài đã lấy chiếc khăng choàng vàng quàng chặt cổ rồi phi ngựa về, trên đường về phía trước Ngài gặp một cây Đa rất lớn và có một bà lão rất đẹp bán nước dưới gốc Đa lạ thay khi qua chốn này Ngài cảm thấy nhẹ nhõm, bà mười Ngài vào uống nước, Ngài hỏi bà lão một câu :” Ta có thể về được quê nhà không?” Bà lão đáp lại: “ nếu như Ngài uống được cạn 3 ly trà này thì Ngài sẽ về đến quê hương mình” Bà lão dứt lời thì Ngài uống cạn hết 3 ly nước rồi lên ngựa. Bỗng chốc mây trời biến sắc cây Đa cùng bà lão bán nước biến mất, Ngài liền phi ngựa về Ngài đi đến đâu những giọt máu thấm vào đất tạo ra những hòn đá lớn tròn trĩnh rất đẹp, về đến mảnh đất quê nhà ngựa hí vang cả một vùng, Ngài đã nằm xuống nhưng sắc mặt vẫn tươi tắn như người nằm ngủ, đột nhiên đất mối xung quanh ùn ùn bao bọc che lấy di quan của Ông và tạo thành ngôi mộ lớn. Triều Đình lấy làm thương tiếc nên lấy đất Âm Công – Quê hương ngài để tưởng nhớ công ơn và xây dựng ngôi đền nhỏ trên nền đất “Mỏ Hạc Linh Từ” (một khu đất lớn có 2 con sông chảy ra Sông Lam tạo nên hình hài một con Hạc lớn vươn cánh bay lên trời xanh) ngay bên cạnh mộ Ông.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội chính diễn ra vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hằng năm. Ngoài ra còn có lễ hội khai điểm vào ngày rằm tháng 3. Lễ hội có các hoạt động như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người.[1] Lễ hội có các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người... Đền Ông Hoàng Mười cũng là một trong những nơi diễn ra Đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân xâm lược.

Lễ hội chính trên thì rằm tháng giêng và tháng bảy nghi lễ tế thần tại đền, sau đó rước kiệu thần về đình đền trong tổng phủ, mở Hội vui 3 ngày, có thi đánh cờ, kéo co, đua vật và hát tuồng bội, phường chèo,chầu văn,sắc bùa,bơi thuyền rồng chầu đền, v.v.. đến ngày thứ 4 rước kiệu về đền.đây là lễ hội lớn của cả vùng.

Giỗ Đức Thánh Hoàng Mười. Lễ khai quang (ngày 8/10), lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền (ngày 9/10), lễ tạ, yết cáo (tối ngày 10/10). Rước sắc từ đền về lại nhà thờ họ Nguyễn tại làng Xuân Am (11/10). Đến phần hội, sau phần lễ hội, khai hội là các hoạt động hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người, cờ thẻ, thi kéo co, cắm trại, đánh bóng chuyền ở sân đền và đua thuyền,thả đèn hoa đăng, đèn trời trên sông Cồn mộc. Các hoạt động đó kéo dài cả ngày. Tối ngày 10/10 tổ chức biểu diễn văn nghệ Mỏ Hạc Linh Từ. 

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Ông Hoàng Mười - Nghệ An
Đền Ông Hoàng Mười - Hưng Nguyên, Nghệ An

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]