Định lý nhỏ Fermat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Định lý nhỏ của Fermat (hay định lý Fermat nhỏ - phân biệt với định lý Fermat lớn) khẳng định rằng nếu là một số nguyên tố, thì với số nguyên bất kỳ, sẽ chia hết cho . Bằng kí hiệu đồng dư ta có:[1]

Ví dụ: với .

Một cách phát biểu khác của định lý như sau: nếu là số nguyên tố và là số nguyên nguyên tố cùng nhau với , thì sẽ chia hết cho . Nghĩa là:[1]

Ví dụ: với

Cũng có một cách phát biểu khác là: Nếu là một số nguyên tố và là số nguyên không chia hết cho , thì lũy thừa bậc có số dư bằng 1 khi chia cho .

Định lý Fermat nhỏ là cơ sở để kiểm tra tính nguyên tố theo xác suất trong kiểm tra Fermat.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một bức thư gửi cho người bạn Frénicle de Bessy ngày 18 tháng 10 năm 1640, Pierre de Fermat khẳng định: Nếu là số nguyên tố và là một số nguyên không chia hết cho thì sẽ chia hết cho .[2]

Như thường lệ, Fermat không chứng minh định lý này mà chỉ thông báo:[3]

Et cette proposition est généralement vraie en toutes progressions et en tous nombres premiers; de quoi je vous envoierois la démonstration, si je n'appréhendois d'être trop long.

(And this proposition is generally true for all progressions and for all prime numbers; the proof of which I would send to you, if I were not afraid to be too long.)

Euler lần đầu tiên công bố một chứng minh vào năm 1736 trong bài báo tựa đề "Theorematum Quorundam ad Numeros Primos Spectantium Demonstratio", nhưng Leibniz đã có chứng minh với ý tưởng tương tự trong bản thảo không được công bố vào khoảng trước năm 1683.

Tên gọi "định lý nhỏ của Fermat" được dùng lần đầu vào năm 1913 trong Zahlentheorie bởi Kurt Hensel:

Für jede endliche Gruppe besteht nun ein Fundamentalsatz, welcher der kleine Fermatsche Satz genannt zu werden pflegt, weil ein ganz spezieller Teil desselben zuerst von Fermat bewiesen worden ist."

(There is a fundamental theorem holding in every finite group, usually called Fermat's little Theorem because Fermat was the first to have proved a very special part of it.)

Lịch sử xa hơn[sửa | sửa mã nguồn]

Một cách độc lập các nhà toán học Trung Quốc đưa ra một giả thuyết (thường gọi là giả thiết Trung Quốc) rằng là một số nguyên tố khi và chỉ khi . Đúng là nếu là số nguyên tố, thì . Đây là trường hợp đặc biệt của định lý nhỏ của Fermat. Tuy thế, điều ngược lại (nếu thì là số nguyên tố) là sai. Chẳng hạn, , nhưng hợp số (gọi là số giả nguyên tố [pseudoprime]).

Chứng minh[sửa | sửa mã nguồn]

Fermat phát biểu định lý mà không chứng minh. Xem chi tiết trong Các chứng minh của định lý nhỏ Fermat.

Tổng quát hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Một dạng tổng quát của định lý này là: nếu p là số nguyên tố và mn là các số nguyên dương thỏa mãn , thì .

Định lý Fermat còn được tổng quát hóa bởi Định lý Euler: với modulo n bất kỳ và số nguyên a bất kỳ là số nguyên tố cùng nhau vớí n, ta có

trong đó φ(n) là ký hiệu của phi hàm Euler đếm số các số nguyên giữa 1 và n nguyên tố cùng nhau với n. Đây là tổng quát hóa của định lý nhỏ Fermat vì nếu n = p là số nguyên tố thì φ(p) = p − 1.

Tổng quát hơn nữa là Định lý Carmichael.

Một định lý khác tống quát hóa của nó nằm trong các trường hữu hạn.

Số giả nguyên tố[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu p là hợp số và có số nguyên a sao cho chia hết cho p, thì p được gọi là số giả nguyên tố cơ sở a. F. Sarrus vào năm 1820 đã tìm thấy 341 = 11×31 là số giả nguyên tố đầu tiên,với cơ sở 2.

Một số p là số giả nguyên tố cơ sở a với mọi (a,p)=1 thì được gọi là số Carmichael (chẳng hạn 561).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hardy, G. H; E. M. Wright (1960). An Introduction to the Theory of Numbers. tr. 63. 
  2. ^ Burton, David (2010). The History of Mathematics: An Introduction. tr. 514. ISBN 978-0-07-338315-6. 
  3. ^ Fermat, Pierre; Paul Tannery, Charles Henry (1891). Oeuvres de Fermat. tr. 209. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]