Alfred Schnittke

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Alfred Garryevich Schnittke
Alfred Schnittke 1934-1998.jpg
Ảnh nhạc sĩ do Ewa Rudling chụp năm 1994
Tên bản ngữАльфре́д Га́рриевич Шни́тке
SinhNgày 24 tháng 11 năm 1934
Thành phố Энгельс Engels (thành phố), Liên Xô
MấtNgày 3 tháng 8 năm 1998 24 tháng 11 năm 1998(1998-11-24) (64 tuổi)
Hamburg, Đức
Nghề nghiệpNhà soạn nhạc
Tác phẩm nổi bậtGiao hưởng, concerto đàn dây

Alfred Garrievich Schnittke (tiếng Nga: Альфре́д Га́рриевич Шни́тке, tiếng Việt: An-phrêt Ga-riê-vic Snit-kê) là nhà soạn nhạc người Nga - Đức, thuộc thời kỳ hiện đại, nổi tiếng vì đã phát triển một kỹ thuật đa âm sắc trong các tác phẩm như bản giao hưởng sử thi số 1 (1969-1972) và bản concerto đầu tiên của mình (1977), dù thời kỳ đầu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Dmitri Shostakovich. Trong những năm 1980, các nhạc phẩm của ông bắt đầu được biết đến rộng rãi ở nước ngoài qua những xuất bản phẩm bộ tứ tấu đàn dây thứ hai (1980) và thứ ba (1983) và bộ tam tấu đàn dây (1985); vở ba lê Peer Gynt (1985–1987); bản giao hưởng n°3 (1981), n°4 (1984), và n°5 (1988), cũng như bản viola concerto (1985) và bản cello concerto đầu tiên (1985–1986).[1][2]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của Schnittke là Harry Maximilian Schnittke (1914–1975), gốc Do Thái sinh ra ở Frankfurt (Đức), chuyển đến Liên Xô năm 1927 làm phóng viên kiêm phiên dịch viên tiếng Đức. Mẹ của ông là Maria Iosifovna Schnittke (1910–1972), là người Đức vùng Volga sinh ở Nga. Bà nội của Schnittke là Tea Abramovna Katz (1889–1970), là một nhà ngữ văn, dịch giả và biên tập viên văn học tiếng Đức.[3]

Alfred Schnittke sinh ra ở thành phố Ăng-ghen (Энгельс) hồi đó thuộc nước Cộng hòa Volga-Đức của Liên Xô.

học tư về môn piano tại Viên vào các năm 1946-1948. Sau đó, Schnittke học nhạc tại Nhạc viện Moskva vào các năm 1953-1961, sau ở lại dạy các môn phức điệu và sáng tác đến năm 1972. Ngoài ra, nhà soạn nhạc sinh năm 1934 cũng công tác tại Studio thể nghiệm âm nhạc điện tử của thành phố Moskva.[4]

Phong cách sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Alfred Schnittke lúc đầu chịu ảnh hưởng của âm nhạc 12 cung. Ngoài ra, Schniittke còn chịu ảnh hưởng của Stockhausen, CageLigeti. Nhưng sau đó, ông đã tăng độ kịch tính, tính tiêu đề cho các tác phẩm của mình bằng cách sử dụng những trích dẫn, những mô phỏng.[4]

Các tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Alfred Schnittke đã viết 4 vở opera; tám bản giao hưởng; các bản concerto cho piano, cho violin; bản oratorio Nagasaki cho giọng mez, hơpcj xướng cùng dàn nhạc; bản cantata Những khúc ca về chiến tranh và hòa bình (1959) và nhiều tác phẩm thanh-khí nhạc khác; những tác phẩm cho dàn nhạc thính phòng như bản Prelude tưởng niệm Shostakovich cho 2 violin (1975); những bản sonata cho piano; các tiểu phẩm âm nhạc dành cho đàn organ. Ngoài ra ông còn viết các bài báo phê bình về các tác phẩm của Shostakovich.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hãng Новости. “Альфред Шнитке. Биография”.
  2. ^ “Alfred Schnittke”.
  3. ^ “БЕСЕДЫ С АЛЬФРЕДОМ ШНИТКЕ”.
  4. ^ a ă â Từ điển tác giả, tác phẩm âm nhạc phổ thông, Vũ Tự Lân, xuất bản năm 2007

Đọc đủ hơn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]