Không kích vào Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Các cuộc không kích vào
Nhật Bản
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương, trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Black and white photo of three multi-engined aircraft flying in formation while dropping a large number of bombs
Máy bay ném bom B-29 Superfortress thả xuống bom gây cháy ở Yokohama trong tháng 5/1945
Thời gian18 tháng 4 năm 1942 – 15 tháng 8 năm 1945
Địa điểm
Kết quả Đồng Minh chiến thắng
Tham chiến
 Hoa Kỳ
 Anh Quốc
Trung Quốc
 Nhật Bản
Thành phần tham chiến
Hoa Kỳ Không lực 5
Hoa Kỳ Không lực 7
Hoa Kỳ Không lực 11
Hoa Kỳ Không lực 20
Hoa Kỳ Hạm đội 3
Hoa Kỳ Hạm đội 5
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Hạm đội Thái Bình Dương của Anh
Không lực Trung Hoa Dân quốc
Đế quốc Nhật Bản Quân khu Miền Bắc
Đế quốc Nhật Bản Quân khu Miền Đông
Đế quốc Nhật Bản Quân khu Trung tâm
Đế quốc Nhật Bản Quân khu Miền Tây
Đế quốc Nhật Bản Bộ Tư lệnh Quân đội
Đế quốc Nhật Bản Chỉ huy Không quân
Tổn thất
Không lực 5:
31 máy bay
Không lực 7:
12 máy bay
Phi đội chiến đấu VII:
157 máy bay
91 người chết
Không lực 20: 414 máy bay
hơn 2.600 người chết[1]
Tổng cộng:
614 máy bay
2.691 chết
241.000 – 900.000 người chết
4.200 máy bay[2]

Các lực lượng đồng minh đã tiến hành nhiều cuộc không kích vào Nhật Bản trong Thế chiến II, gây ra sự hủy diệt trên diện rộng cho các thành phố của đất nước và giết chết từ 241.000 đến 900.000 người. Mục đích của các cuộc không kích, được thực hiện từ giữa năm 1944 cho đến khi kết thúc chiến tranh là phá hủy các cơ sở công nghiệp của Nhật Bản và gây áp lực tâm lý cho xã hội và buộc nước này phải đầu hàng mà không phải xâm chiếm.

Trong giai đoạn đầu, sau cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng, các cuộc tấn công bị giới hạn trong cuộc đột kích Doolittle ở Tokyo vào tháng 4 năm 1942 và được thực hiện từ giữa năm 1943 trong một cuộc tấn công quy mô nhỏ vào các căn cứ quân sự ở Quần đảo Kuril. Một cuộc không kích quy mô lớn hơn bắt đầu vào giữa năm 1944 và kéo dài cho đến khi kết thúc chiến tranh vào tháng 8 năm 1945. Năm 1945, không quân Anh cũng tham gia vụ đánh bom.

Chiến dịch trên không của hàng không Mỹ chống lại Nhật Bản bắt đầu vào giữa năm 1944, và tăng cường vào những tháng cuối của cuộc chiến. Mặc dù các kế hoạch tấn công Nhật Bản đã được chuẩn bị trước chiến tranh, tuy nhiên, các cuộc tấn công không thể diễn ra cho đến khi máy bay ném bom hạng nặng tầm xa của B-29 Superfortress sẵn sàng. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1944 đến tháng 1 năm 1945, những chiếc B-29 đóng tại Ấn Độ đã bay đến các sân bay Trung Quốc, từ đó chúng được cho là thực hiện các cuộc tuần hành chống lại Nhật Bản, nhưng nó đã kết thúc trong thất bại. Các cuộc bắn phá chiến lược đã đạt được động lực vào tháng 11 năm 1944 sau khi chiếm được Saipan, Tinian và đảo Guam, do kết quả một cuộc phản công của không quân Nhật vào quần đảo Mariana, căn cứ không quân được bảo vệ chặt chẽ hơn. Ban đầu, các khu công nghiệp trên các đảo Nhật bị tấn công, nhưng từ tháng 3 năm 1945, các khu vực đô thị trở thành mục tiêu của các cuộc không kích, vì hầu hết nguồn lực vật chất được người Nhật sản xuất trong các xưởng nhỏ và nhà riêng. Trong những tháng cuối của cuộc xung đột, các máy bay của quân Đồng minh cất cánh từ hàng không mẫu hạm và quần đảo Riukiu đang thực hiện các cuộc tấn công để hỗ trợ cuộc xâm lược của Nhật Bản đã lên kế hoạch vào tháng 10.

Vào đầu tháng 8, các thành phố Hiroshima và Nagasaki gần như bị phá hủy hoàn toàn bởi bom nguyên tử. Những người bảo vệ không thể ngăn chặn các cuộc tấn công của quân Đồng minh. Số lượng máy bay chiến đấu và súng phòng không trên các đảo nhà là không đủ, và hầu hết các máy bay và súng đều gặp khó khăn khi đạt đến độ cao B-29 hoạt động. Thiếu nhiên liệu, đào tạo phi công không đầy đủ và phối hợp hoạt động kém giữa các đơn vị phòng không, không quân cũng làm suy yếu hiệu quả phòng thủ. Các thành phố của Nhật Bản không được chuẩn bị cho các cuộc tấn công với việc sử dụng bom gây cháy, đội cứu hỏa thiếu thiết bị và huấn luyện, và hơn nữa, có quá ít nơi trú ẩn cho dân thường. Nhờ đó, máy bay ném bom B-29 đã có thể thực hiện ném bom hiệu quả mà không mất quá nhiều. Các cuộc đột kích đã gây ra sự tàn phá của nhiều thành phố Nhật Bản và cái chết từ 241.000 đến 900.000 người, cùng với sự phong tỏa rất hiệu quả của Nhật Bản đã buộc chính quyền nước này phải đưa ra quyết định đầu hàng. Do đó, việc bắn phá các đảo của Nhật Bản là một trong những yếu tố ngăn chặn cuộc xâm chiếm đất liền của Mỹ đối với các đảo chủ của Đế quốc Nhật Bản, ước tính mang lại khoảng 6 triệu thương vong cho dân thường Nhật Bản và khoảng 1 triệu thương vong cho lực lượng xâm lược Hoa Kỳ.

Mặc dù các vụ đánh bom đồng minh là một trong những yếu tố chính khiến chính quyền Nhật Bản đưa ra quyết định đầu hàng vào giữa tháng 8 năm 1945, nhưng sau chiến tranh, chủ đề tranh chấp về khía cạnh đạo đức của họ và tính hợp pháp của việc sử dụng vũ khí hạt nhân vẫn còn gây tranh cãi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kerr (1991), p. 276
  2. ^ Coox (1994), p. 417