Cấm thư ma thuật Index

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Cấm thư ma thuật Index
Bia Index Vol1.jpg
Bìa tập 1 light novel do IPM phân phối ở Việt Nam.
とある魔術の禁書目録
Thể loạiHành động, phiêu lưu, fantasy, khoa học viễn tưởng
Light novel
Tác giảKamachi Kazuma
Minh họaHaimura Kiyotaka
Nhà xuất bảnASCII Media Works
Nhà xuất bản khác
  • Hàn Quốc Daiwon C.I.
  • Đài Loan Kadokawa Media
  • Việt Nam IPM
  • Đối tượngNam
    Ấn hiệuDengeki Bunko
    Đăng tảiNgày 10 tháng 4 năm 2004Ngày 10 tháng 10 năm 2010
    Số tập22
    Manga
    Tác giảKamachi Kazuma
    Minh họaKogino Chuya
    Nhà xuất bảnSquare Enix
    Đối tượngShōnen
    Tạp chíMonthly Shōnen Gangan
    Đăng tảiTháng 5 năm 2007 – nay
    Số tập8
    Light novel
    Toaru Majutsu no Index SS
    Tác giảKamachi Kazuma
    Minh họaHaimura Kiyotaka
    Nhà xuất bảnASCII Media Works
    Nhà xuất bản khác
    Hàn Quốc Daiwon C.I.
    Đài Loan Kadokawa Media
    Đối tượngNam
    Ấn hiệuDengeki Bunko
    Đăng tảiNgày 10 tháng 7 năm 2007 – nay
    Số tập2
    Anime truyền hình
    Đạo diễnNishikiori Hiroshi
    Kịch bảnAkahoshi Masanao
    Âm nhạcIuchi Maiko
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phép
  • Canada Hoa Kỳ Funimation Entertainment
  • Đài Loan Muse Communication
  • Kênh gốcMBS, tvk, Chiba TV, CBC, AT-X, Teletama
    Kênh khác
    Hàn Quốc Animax Korea
    Phát sóng Ngày 04 tháng 10 năm 2008 Ngày 19 tháng 3 năm 2009
    Số tập24
    Anime truyền hình
    Toaru Majutsu no Index II
    Đạo diễnNishikiori Hiroshi
    Kịch bảnAkahoshi Masanao
    Âm nhạcMaiko Iuchi
    Hãng phimJ.C.Staff
    Kênh gốcAT-X, Tokyo MX, Teletama, Chiba TV, MBS, tvk, CBC
    Phát sóng Ngày 08 tháng 10 năm 2010 Ngày 01 tháng 4 năm 2011
    Số tập24
    Trò chơi
    Phát triểnKadokawa Games
    Phát hànhASCII Media Works
    Thể loạiĐối kháng
    Phân hạng
    Hệ máyPlayStation Portable
    Ngày phát hànhNgày 27 tháng 1 năm 2011
    Light novel
    Shinyaku Toaru Majutsu no Index
    Tác giảKamachi Kazuma
    Minh họaHaimura Kiyotaka
    Nhà xuất bảnASCII Media Works
    Đối tượngNam
    Ấn hiệuDengeki Bunko
    Đăng tảiNgày 10 tháng 3 năm 2011 – nay
    Số tập21
    Trò chơi
    Toaru Majutsu to Kagaku no Ensemble
    Phát triểnBanpresto, Guyzware
    Phát hànhNamco Bandai Games
    Thể loạiVisual novel
    Hệ máyPlayStation Portable
    Ngày phát hành
    • JP 21 tháng 2 năm 2013
    Phim anime
    Toaru Majutsu no Index: Endyumion no Kiseki
    Đạo diễnNishikiori Hiroshi
    Kịch bảnKamachi Kazuma
    Yoshino Hiroyuki
    Âm nhạcIuchi Maiko
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phépCanadaHoa Kỳ Funimation Entertainment
    Công chiếuNgày 23 tháng 2 năm 2013
    Manga
    Toaru Majutsu no Index: Endyumion no Kiseki
    Tác giảKamachi Kazuma
    Minh họaAsakura Ryōsuke
    Nhà xuất bảnSquare Enix
    Đối tượngShōnen
    Tạp chíMonthly Shōnen Gangan
    Đăng tảiTháng 3 năm 2013 – nay
    Manga
    Toaru Kagaku no Ippou Tsuukou
    Tác giảKamachi Kazuma
    Minh họaYamaji Arata
    Nhà xuất bảnASCII Media Works
    Đối tượngShōnen
    Tạp chíDengeki Daioh
    Đăng tảiNgày 27 tháng 12 năm 2013 – nay
    Anime truyền hình
    Toaru Majutsu no Index III
    Đạo diễnNishikiori Hiroshi
    Sản xuấtSquare Enix
    Kịch bảnAkahoshi Masanao
    Âm nhạcMaiko Iuchi
    Hãng phimJ.C.Staff
    Kênh gốcAT-X, tvk, NBCUniversal Entertainment Japan
    Phát sóng Ngày 05 tháng 10 năm 2018  ?
    Số tập24
    Ngoại truyện
    1. Toaru Kagaku no Railgun
    2. Toaru Kagaku no Ippou Tsuukou
    Chủ đề Anime và manga

    Cấm thư ma thuật Index (とある魔術の禁書目録, とあるまじゅつのインデックス) là loạt light novel được viết bởi Kamachi Kazuma và minh họa bởi Haimura Kiyotaka, xuất bản bởi ASCII Media Works thông qua nhà xuất bản Dengeki Bunko của họ từ tháng 4 năm 2004 đến ngày 10 tháng 10 năm 2010. Cốt truyện xoay quanh Kamijō Tōma một anh chàng có số xui tận mạng nhưng lại có được sức mạnh vô hiệu hóa tất cả các phép thuật cho dù có mạnh đến đâu khi anh chạm vào, cuộc sống của anh càng rối thêm khi một cô gái tên Index người có kiến thức và khả năng sử dụng hầu như tất cả các phép thuật trên thế giới xuất hiện và đến sống cùng anh. Tōma cùng các bạn của anh đã tham gia chiến đấu chống lại các thế lực pháp thuật khác nhau để bảo vệ thành phố nơi anh và mọi người đang sống. Bộ nối tiếp là Shinyaku Toaru Majutsu no Index và bộ các ngoại truyện nhỏ là Toaru Majutsu no Index SS cũng đang được phát hành.

    Loạt tiểu thuyết đã được chuyển thể thành manga và đăng trên tạp chí Monthly Shōnen Gangan từ tháng 5 năm 2007. Chuyển thể anime cũng đã được thực hiện và phát sóng từ ngày 03 tháng 10 năm 2009 đến ngày 20 tháng 3 năm 2010. Bộ anime thứ hai có tựa Toaru Majutsu no Index II cũng đã được thực hiện và phát sóng từ ngày 08 tháng 10 năm 2010 đến ngày 01 tháng 4 năm 2011. Một chuyển thể trò chơi điện tử thể loại đối kháng cũng đã được thực hiện và phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2011.

    Các ngoại truyện của loạt tiểu thuyết này như Toaru Kagaku no Railgun (とある科学の超電磁砲) và Toaru Kagaku no Ippou Tsuukou (とある科学の一方通行) cũng đã được thực hiện dưới nhiều loại hình truyền thông khác nhau.

    Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

    Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

    Cốt truyện xoay quanh một cậu học sinh cấp 3 tên là Kamijou Touma, anh ta sở hữu cánh tay phải có năng lực có thể vô hiệu hoá bất kì siêu năng lực hay phép thuật nào dù mạnh đến đâu khi anh chạm vào. Đồng thời, năng lực này cũng gây cho anh chàng này khá nhiều phiền phức.

    Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

    -Kamijou Touma (Năng lực: Imagine Breaker)

    -Index Librorum Prohibitorum (Khả năng: Spell Intercept)

    -Misaka Mikoto (Năng lực: Railgun)

    -Accelerator (Năng lực: Accelerator)

    -Hamazura Shiage (Năng lực: Không)

    Level 5:

    -Hạng 3 level 5: Misaka Mikoto (Năng lực: Railgun)

    -Hạng 1 level 5: Accelerator (Năng lực: Accelerator)

    -Hạng 2 level 5: Kakine Teitoku (Năng lực: Dark Matter)

    -Hạng 4 level 5: Mugino Shizuri (Năng lực: Meltdowner)

    -Hạng 5 level 5: Shokuhou Misaki (Năng lực: Mental Out)

    -Hạng 6 level 5: Aihana Etsu (Năng lực: Chưa rõ)

    -Hạng 7 level 5: Sogita Gunha (Năng lực: Chưa rõ)

    Sister:

    -Misaka 10.032

    -Last Order

    -Misaka Worst

    Khác:

    -Aleister Crowley (Người đứng đầu Học viện và cũng là Pháp sư vĩ đại nhất)

    -Kazakiri Hyouka (Bạn thân của Index, chìa khóa của Khu số ảo)

    -Aiwass (DRAGON)

    -Heaven Canceller (Bác sĩ mặt ếch, Thiên tài y khoa)

    -Himegami Asa

    -Shirai Kuroko

    -Tsuchimikado Motoharu

    -Aogami Pierce

    -Fukiyose Seiri

    -Tsukuyomi Komoe

    -Karakiri Hyouka

    -Musujime Awaki

    -Takisubo Rikou

    -Kinuhata Saiai

    -Frenda Seivelun

    -Fremea Seivelun

    -Hattori Hanzou

    -Kuroyoru Umidori

    -Yomikawa Aiho

    -Yoshikawa Kikyou

    -Etzali

    Các tổ chức trong Học viện:

    Academy City Board of Directors:

    - Bao gồm 12 người giữ quyền lực tuyệt đối trong thành phố Học viện, chỉ sau chủ tịch Aleister Crowley.

    Thành viên:

    - Kaizumi Tsugutoshi

    - Oyafune Monaka

    - Shiokishi

    - Nakimoto Rizou

    - Thomas Platinaburg (Đã chết)

    - Yakumi Hisako (Tước quyền)

    Anti-Skill:

    - Là cảnh sát và lực lượng an ninh của thành phố. Các thành viên là người lớn bình thường làm việc cho thành phố Học viện.

    Thành viên:

    - Yomikawa Aiho

    - Saigou Ryouta

    - Sugiyama Edao

    - Teshio Megumi (nghỉ)

    - Kouji Masakage

    - Tessou Tsuzuri

    - Kameyama Ryuuta

    - Jounan Asako (bị bắt)

    - Momozawa

    - Yashiro

    - Kakita

    - Sumomo

    - Kurumi

    - Hakutou

    - Stephanie Gorgeouspalace

    - Itou

    - Shiosai

    Judgment:

    - Là lực lượng an ninh gồm những học sinh của Thành phố học viện. Cùng với Anti-Skill, hai lực lượng gìn giữ và duy trì an ninh của Học viện.

    Thành viên:

    Chi nhánh 177:

    - Konori Mii (Đội trưởng)

    - Shirai Kuroko

    - Uiharu Kazari

    - Yanagisako Aomi

    - Misaka Mikoto (thành viên không thường trực)

    Chi nhánh khác:

    - Makigami Komaki (Chi nhánh 3)

    - Kihara Nayuta (Chi nhánh 49)

    - Tobio Yumi (Chi nhánh 105)

    - Yotsuba (Không rõ)

    BLOCK:

    - Một tổ chức thuộc Học viện được thành lập với mục tiêu quan sát mức độ hợp tác các thế lực bên ngoài với thành phố Học viện.

    Thành viên:

    - Saku Tatsuhiko

    - Teshio Megumi

    - Yamate

    - Tetsumou

    ITEM:

    - Một tổ chức thuộc Học viện có chức năng giám sát Hội đồng ban giám đốc thành phố và ngăn chặn họ khi cần thiết.

    Thành viên:

    - Mugino Shizuri

    - Takitsubo Rikou

    - Kinuhata Saiai

    - Frenda Seivelun (Đã chết)

    - Hamazura Shiage (Thành viên mới)

    SCHOOL:

    - Một tổ chức thuộc Học viện được số 2 Kakine Tetoku lãnh đạo. Không rõ mục đích thành lập (?)

    Thành viên:

    - Kakine Teitoku

    - Girl in the dress (?)

    - Yumiya Rakko (Đã chết)

    - Sunazara Chimitsu (thay thế tay súng cũ, Yumiya Rakko, bị giết bởi ITEM)

    - Yobou Banka

    MEMBER:

    - Một tổ chức thuộc Học viện có chức năng thay mặt người đứng đầu Học viện Aleister Crowley.

    Thành viên:

    - Professor (Đã chết)

    - Baba Yoshio (Chưa xác định)

    - Xochitl (Bỏ trốn)

    - Saraku

    - Kouzaku Mitori (Chưa xác định)

    SKILL OUT:

    - Một nhóm vũ trang LV0 trong thành phố Học viện với hơn 1000 thành viên. Mục đích thành lập là chiến đấu lấy lại sự bình đẳng cho những người không có năng lực.

    Thành viên:

    - Komaba Ritoku

    - Hamazura Shiage

    - Hattori Hanzou

    PHE PHÉP THUẬT[sửa | sửa mã nguồn]

    Giáo hội Công giáo Roma:

    Ghế phải của Chúa (God's Right Seat):

    - Vento tiên phong (Sức mạnh: Divine Punishment)

    - Acqua hậu phương (Sức mạnh: Divine Mother's Mercy)

    - Terra cánh tả (Sức mạnh: Execution of Light)

    - Fiamma cánh hữu (Sức mạnh: Holy Right)

    Thuần Anh Giáo hội:

    -Laura Stuart (Tổng giám mục Giáo hội)

    -Stiyl Magnus

    -Orsola Aquinas

    -Sherry Gromwell

    -Rachel

    -Ellasone

    -Melvina Bailey

    -Glencia Bailey

    -Karasuma Fran

    Giáo hội Amakusa:

    -Kanzaki Kaori

    -Tatemiya Saiji

    -Itsuwa

    Witches:

    -Smartvery (Phù thủy có tiếng nói nhất)

    -Marie Spearhead

    -Mallybath Blackball

    -Jane Elves

    Giáo hội chính thống Nga:

    -Krans R.Tsarskiy (Người đứng đầu)

    -Nikolai Tolstoy

    -Saronia A. Irivika (Cũ)

    Annihilatus

    Tổ chức bí mật thuộc giáo hội Nga

    -Vasilisa (Leader)

    -Sasha Kreutzev

    -Skogsfru

    Lực lượng Agnese:

    -Lãnh đạo: Agnes Sanctis

    -Thành viên:

    -Angelene

    -Lucia

    -Agata

    Hiệp sĩ:

    -Lãnh đạo hiệp sĩ (không rõ tên)

    Gia đình hoàng gia:

    -Nữ hoàng Anh Elizard

    -Đại công chúa Rimesa

    -Nhị công chúa Carissa

    -Tam công chúa Villian

    Saint (Đứa con của Chúa):

    - Kanzaki Kaori

    - William Orwell - Mất sức mạnh Saint sau WW3

    - Silvia

    - Brunhild Eiktobel

    - Number Ten Saint

    Trường hợp đặc biệt:

    - Melgo Arisa

    - Pantagruel

    New Light:

    Là một tổ chức ma thuật có trụ sở ở Anh, chuyên về ma thuật Bắc Âu.

    Thành viên:

    -Bayloupe

    -Foris

    -Lancis

    -Lessar

    Dawn-Colored Sunlight:

    Tổ chức được thành lập với mục tiêu loại bỏ sự phân biệt giữa 2 phe Khoa học - Ma thuật, và thâu tóm cả hai.

    Thành viên:

    - Leivinia Birdway (Lãnh đạo)

    - Mark Space (Trợ lý)

    - Hơn 10.000 thành viên khác

    GREMLIN:

    Tổ chức ma thuật thành lập sau WW3, dẫn đầu bởi Othinus. Là một tổ chức sử dụng cả khoa học lẫn phép thuật để đạt được mục tiêu. Là kẻ thù chính sau thế chiến của Kamijou Touma.

    Thành viên:

    Othinus (Lãnh đạo)

    Mjölnir

    Marian Slingeneyer

    Útgarða-Loki (Đã chết?)

    Sigyn Đã chết?)

    Bersi (Đã chết)

    Thor (Đã chết)

    Loki

    Jörmungandr

    Freyja (Không rõ)

    Hel

    Fenrir

    Iðunn

    Sif

    Anti-GREMLIN:

    Là một lực lượng được thành lập để chống lại GREMLIN. Gồm những quốc gia hùng mạnh, dẫn đầu là Roberto Katze, tổng thống Mỹ.

    Thành viên:

    -Roberto Katze (Tổng thống Mỹ)

    -Nữ hoàng Elizard (Nữ hoàng Anh)

    -Pietro Yogdis (Đức Hồng y Vantican)

    -Bộ trưởng ngoại giao Ý

    -Krans R. Tsarskiy (Người đứng đầu Giáo hội chính thống Nga)

    -Maiden of Versailles (Đứng sau chính phủ Pháp)

    Majin hay Magic God (Ma thần):

    -Othinus (Lãnh đạo GREMLIN) (Sức mạnh: Majin-related abilities, Odin-related abilities)

    -High Priest (Sức mạnh: Dirt Manipulation Magic)

    -Nephthys (Sức mạnh: Crying Magic)

    -Niang Niang (Sức mạnh: Pao Pei)

    -Zombie (Sức mạnh: Voodoo Magic)

    -Chimera

    -Nuada

    -Proserpina

    -Tezcatlipoca

    -Forgotten God

    Kamisato Kakeru Faction:

    Là một nhóm tập hợp xung quanh Kamisato Kakeru, tương tự Kamijou Touma Faction.

    Thành viên:

    -Kamisato Kakeru (Năng lực: World Rejector)

    -Claire

    -Ellen

    -Elza

    -Fran

    -Salome

    -Luca

    -Maya

    -Olivia

    -Mary

    Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

    Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

    Toaru Majutsu no Index được viết bởi Kamachi Kazuma và minh họa bởi Haimura Kiyotaka xuất bản trực tiếp thành các bunkobon mà không đăng trên tạp chí. ASCII Media Works đã phát hành 22 tập thông qua nhà xuất bản Dengeki Bunko của họ từ tháng 4 năm 2004 đến ngày 10 tháng 10 năm 2010. Hiện nay tại Việt Nam đã được đơn vị IPM mua bản quyền tiếng việt và đã được phát hành với tên là 'Cấm Thư Ma Thuật Index'.

    Bộ Toaru Majutsu no Index SS là tập hợp các mẫu truyện ngắn đăng trên tạp chí Dengeki Bunko Magazine với hai tập đã được phát hành được phát hành vào ngày 10 tháng 7 năm 2007 và ngày 10 tháng 11 năm 2008.

    Bộ nối tiếp là Shinyaku Toaru Majutsu no Index (新約とある魔術の禁書目録) bắt đầu được thực hiện và phát hành từ ngày 11 tháng 3 năm 2011. ASCII Media Works tính đến ngày 10 tháng 1 năm 2014 thì đã có tập 9 được phát hành.

    Tập Toaru Majutsu no Index SP tập hợp các mẫu truyện ngắn có liên quan đến tác phẩm mà Dengeki Bunko chưa tập hợp trước đó đã phát hành vào ngày 10 tháng 8 năm 2011. Cuốn sách này chỉ có phiên bản giới hạn.

    Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

    Dengeki hp đã phát hành 48 đĩa drama CD và phân phối dưới dạng đặt hàng qua thư từ tháng 11 năm 2007. Bộ drama CD này được chia thành hai phần. Phần đầu đã được phát trên đài phát thành Dengeki Taishō với cốt truyện nói về việc Kamijō Tōma và Index gặp một vật thể bí ẩn có thể tự di chuyển được tạo ra bởi pháp sư tại một nhà hàng sau khi Misaka rời đi vì có chuyện khẩn cấp. Phần thứ hai nói về Misaka Mikoto và Shirai Kuroko cùng chuyện khẩn cấp của họ.

    Manga[sửa | sửa mã nguồn]

    Chuyển thể manga đã được thực hiện với cốt truyện viết bởi Kamachi Kazuma và minh họa bởi Kogino Chuya. Loạt manga này có cốt truyện bám sát theo loạt light novel. Các chương của loạt manga đã đăng trên tạp chí truyện tranh phát hành hằng tháng dành cho shōnenMonthly Shōnen Gangan từ tháng 5 năm 2007. Square Enix sau đó đã tập hợp các chương lại và phát hành thành các tankōbon thông qua nhà xuất bản Gangan Comics của họ.

    Ngoại truyên khác có tên Toaru Kagaku no Ippou Tsuukou (とある科学の一方通行) đã được thực và đăng trên Dengeki Daioh với cốt truyện cũng được viết bởi Kamachi Kazuma nhưng minh họa bởi Yamaji Arata từ tháng 12 năm 2013.

    Anime[sửa | sửa mã nguồn]

    J.C.Staff đã thực hiện chuyển thể anime cho Toaru Majutsu no Index với sự đạo diễn của Nishikiori Hiroshi. Âm nhạc của anime được soạn bởi Iuchi Maiko và hòa tấu bởi Tanaka Yuichi, việc thiết kế nhân vật do Tanaka Yuichi phụ trách còn Ebina Yasunori đảm nhận việc đạo diễn nghệ thuật và âm thanh. Việc thực hiện bộ anime này được công bố vào ngày 03 tháng 6 năm 2008 khi tập tiểu thuyết thứ 16 được phát hành với cốt truyện xoay quanh các sự kiện xảy ra trong 6 tập tiểu thuyết đầu. Bộ anime này phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 03 tháng 10 năm 2009 đến ngày 20 tháng 3 năm 2010 trên kên MBS, Chiba TVTV Kanagawa và sau đó được chiếu trên các kênh các kênh khác. Tám đĩa DVDBlu-ray đã được phát hành. Ba đoạn phim ngắn với nhân vật theo phong cách super deformed có tựa Toaru Majutsu no Index-tan đã được thực hiện và đính kèm với phiên bản đặc biệt của bộ DVD/BD. Funimation Entertainment đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của bộ anime để tiến hành phân phối tại thị trường Bắc Mỹ, Muse Communication thì phân phối tại Đài Loan.

    Bộ anime thứ hai có tựa Toaru Majutsu no Index II cũng đã được J.C.Staff thực hiện và phát sóng từ ngày 08 tháng 10 năm 2010 đến ngày 01 tháng 4 năm 2011 với 24 tập.

    Phim anime[sửa | sửa mã nguồn]

    Bộ phim anime có tựa Toaru Majutsu no Index: Endyumion no Kiseki (とある魔術の禁書目録(インデックス) エンデュミオンの奇蹟) đã công chiếu tại các rạp ở Nhật Bản vào ngày 23 tháng 2 năm 2013. Kế hoạch làm phim anime đã được công bố tại Lễ hội Dengeki Bunko mùa thu ngày 02 tháng 10 năm 2011. FUNimation Entertainment đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của phim để phân phối tại thị trường Bắc Mỹ.

    Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

    Thế giới của Toaru Majutsu no Index đã được dùng để phát triển trò chơi Dengeki Gakuen RPG: Cross of Venus trên hệ Nintendo DS. Nhân vật nữ Index xuất hiện như nhân vật hỗ trợ, trong khi Mikoto là nhân vật duy nhất trong các nhân vật đến từ Toaru Majutsu no Index có thể điều khiển được và Accelerator là trùm cuối. Trò chơi phát hành vào ngày 19 tháng 3 năm 2009.

    Một trò chơi đối kháng có tựa Toaru Majutsu no Index do Kadokawa Games phát triển và phát hành bởi ASCII Media Works cho hệ PlayStation Portable đã phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2011.

    Namco Bandai GamesBanpresto cũng thực hiện một visual novel có tựa Toaru Majutsu to Kagaku no Ensemble (とある魔術と科学の群奏活劇) cho hệ PSP phát hành vào ngày 21 tháng 2 năm 2013. Bối cảnh của trò chơi là vài ngày trước khi các sự kiện trong phim anime diễn ra.

    Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

    Bộ anime Toaru Majutsu no Index có bốn bài hát chủ đề với hai bài hát mở đầu và hai bài hát kết thúc. Bài hát mở đầu thứ nhất là bài PSI-Missing do Kawada Mami trình bày dùng từ tập 1 đến tập 16 khi phát sóng trên truyền hình, nhưng khi phát hành phiên bản DVD thì bài hát này chỉ dùng đến tập 14. Đĩa đơn chứa bài hát này đã phát hành vào ngày 29 tháng 10 năm 2008 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn đính kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Bài hát mở đầu thứ hai mang tựa Masterpiece cũng do Kawada Mami thực hiện sử dụng từ tập 17 đến tập 24 (từ tập 15 ở phiên bản DVD). Đĩa đơn của bài hát này đã phát hành vào ngày 04 tháng 2 năm 2009 cũng với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn đính kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Bài hát kết thúc thứ nhất là bài Rimless ~Fuchinashi no Sekai~ (Rimless~フチナシノセカイ~) trình bày bởi IKU dùng trong 19 tập đầu của bộ anime. Đĩa đơn chứa bài hát này đã phát hành vào ngày 26 tháng 11 năm 2008. Bài hát kết thúc thứ hai là bài Chikaigoto ~Sukoshi Dake Mō Ichido~ (誓い言~スコシだけもう一度~) cũng do IKU trình bày và được dùng cho các tập còn lại. Đĩa đơn mang bài hát đã phát hành vào ngày 25 tháng 2 năm 2009. Tất cả các bản nhạc dùng trong bộ anime này đều được soạn bởi Iuchi Maiko trong ban nhạc I've Sound. Hai album chứa các bản nhạc dùng trong anime là đã phát hành vào ngày 23 tháng 1 và ngày 24 tháng 4 năm 2009.

    Một bộ 4 đĩa chứa các bài hát do các nhân vật chính trình bày cùng các đoạn drama đã phát hành từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 21 tháng 8 năm 2009.

    Bộ anime Toaru Majutsu no Index II cũng có bốn bài hát chủ đề như bộ anime đầu. Bộ anime Toaru Majutsu no Index có bốn bài hát chủ đề với hai bài hát mở đầu và hai bài hát kết thúc. Bài hát mở đầu thứ nhất là bài No buts! và bài hát mở đầu thứ hai là See visionS, cả hai bài hát đều do Kawada Mami trình bày. Hia đĩa đơn chứa hai bài hát mở đầu đã phát hành vào ngày 3 tháng 11 năm 2010 và ngày 16 tháng 2 năm 2011 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn đính kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Hai bài hát kế thúc là bài Magic∞worldMemories Last (メモリーズ・ラスト) với sự trình bày của Kurosaki Maon. Hia đĩa đơn chứa hai bài hát kết thúc đã phát hành vào ngày 24 tháng 11 năm 2010 và ngày 02 tháng 3 năm 2011 cũng với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn đính kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Album chứa các bài hát phụ dùng trong bộ anime này đã phát hành vào ngày 25 tháng 5 năm 2011.Hai đĩa chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime này đã phát hành trong ngày 26 tháng 1 và 25 tháng 5 năm 2011.

    Một bộ 4 đĩa chứa các bài hát do các nhân vật chính trình bày cùng các đoạn drama đã phát hành từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 24 tháng 8 năm 2009.

    Phim anime có bài hát chủ đầ là bài hát kết thúc có tên FIXED STAR do Kawada Mami trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 20 tháng 2 năm 2013 cùng album chứa các bài hát phụ dùng trong phim. Một đĩa đơn chứa các bài hát do các nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 06 tháng 2 năm 2013 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hàn có đính kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Album chứa các bản nhạc dùng trong phim đã phát hành dưới dạng đính kèm phiên bản BD/DVD giới hạn của phim vào ngày 28 tháng 8 năm 2013.

    Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

    Theo báo cáo vào tháng 5 năm 2010 thì loạt light novel đã bán được 7,7 triệu bản và trở thành tác phẩm bán chạy nhất của Dengeki Bunko. Đến tháng 8 năm 2010 thì báo cáo nói rằng 9 triệu bản đã được tiêu thụ đã làm cho Toaru Majutsu no Index đứng hàng thứ năm trong danh sách các light novel bán chạy nhất tại Nhật Bản vượt qua Full Metal Panic!, Shakugan no ShanaHaruhi Suzumiya. Và đến tháng 11 năm 2010 thì 10 triệu bản đã được tiệu thụ.

    Tại sự kiện trao giải cho các light novel của Kadokawa Shoten năm 2007 thì Toaru Majutsu no Index đã đứng thứ nhì trong thể loại hành động. Tác phẩm này đã được xếp hạng ba lần trong cuốn sách hướng dẫn về các light novel phát hành hằng năm là Kono Light Novel ga Sugoi! với hạng tư năm 2009, hạng chín năm 2010 và hạng nhất năm 2011. Kono Light Novel ga Sugoi! cũng đã bầu cho Misaka Mikoto là nhân vật tiểu thuyết nữ hay nhất và Kamijō Tōma là nhân vật tiểu thuyết nam hay nhất năm 2011.

    Báo cáo tháng 8 năm 2010 đã cho biết là loạt manga Toaru Kagaku no Railgun đã bán được 2,45 triệu bản. bài hát mở đầu của Toaru Kagaku no Railgun là bài Only My Railgun đã thắng giải bài hát chủ đề hay nhất tại sự kiện Animation Kobe năm 2010.

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]