Cồn cát Błędowska

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cồn cát Błędowska
Quốc gia Ba Lan
Tỉnh małopolskie
Mezoregion Garb Tarnogórski
Năm 2004
Diện tích 33 km²
Khu bảo tồn – Cześć Północna

– Cześć Południowa

– Thung lũng Białej Przemszy
50°21′17,18″N 19°30′53,31″E/50,354772 19,514808
Strona internetowa

Cồn cát Błędowska là cồn cát lớn nhất Ba Lan (khoảng 33 km²) nằm ở biên giới của vùng cao nguyên Silesian và vùng cao nguyên Olkuska.

Nó trải dài từ Błędów (Dąbrowa Górnicza) ở phía tây đến Klucze ở phía đông. Biên giới phía bắc của cồn cát là làng Chechło, và ở phía nam bị giới hạn bởi một khu vực rừng rộng lớn. Cồn cát chưa đến 10 km chiều dài và chiều rộng lên tới 4 km. Cát có độ dày trung bình là 40 m, tối đa 70 m. Sông Biała Przemsza chảy qua cồn cát từ đông sang tây. Khu vực cồn cát được bảo vệ bởi chương trình Natura 2000.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ băng hà, các dòng sông băng liên tiếp chảy đến thung lũng nơi có cồn cát, các phần cátsỏi liên tiếp được cuốn đến dần dần. Trong một thời gian dài, những khu vực rộng lớn này chịu tác động của gió và nước, không có lợi cho sự phát triển của thảm thực vật.

Mùa hè năm 2000 - phục hồi cảnh quan cồn cát[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, các chương trình hành động được thực hiện để bảo vệ khu vực độc đáo này bằng cách dọn sạch cây cỏ.[2] Năm 2010, chương trình "Bảo vệ môi trường sống tự nhiên trong lưu vực sông Biała Przemsza" được khởi xướng bởi Tổ chức Công viên Cảnh quan của Śląskie Voivodeship. Khu vực cồn cát được bao phủ bởi chương trình bảo vệ Life+ ở cồn cát Błędowska, việc thực hiện kéo dài đến ngày 30 tháng 11 năm 2014. Mục đích dự án là đạt được trạng thái bảo vệ thích hợp của khu phức hợp lớn nhất Ba Lan gồm hai môi trường sống: đồng cỏ ưa nhiệt và cồn cát nội địa.[3]

Vào năm 2013, hoạt động tham quan cồn cát đã bị đóng cửa cho công tác khôi phục các khu vực. Việc mở cửa trở lại đã được lên kế hoạch cho mùa xuân năm 2014 và việc hoàn thành dự án "Bảo vệ tích cực khu phức hợp môi trường đồng cỏ cát ở cồn cát Błędowska" diễn ra vào tháng 11 năm 2014. Giá trị của dự án là 9 triệu PLN, trong đó 50% được tài trợ từ chương trình Life +, từ Liên minh châu Âu, 45% từ Quỹ bảo vệ môi trường quốc gia, 5% từ thành phố Klucze.[4]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Cồn cát có diện tích khoảng 33 km² (trong đó khoảng 35% cát bay hơi[1]) nằm ở biên giới của vùng cao nguyên Silesian và vùng cao nguyên Olkuska. Nó giáp với Khu công nghiệp Upper Silesian. Nó trải dài từ Dąbrowa Górnicza - quận Błędowa ở phía tây đến Klucze ở phía đông. Biên giới phía bắc là làng Chechło, và ở phía nam giáp với một khu vực rừng rộng lớn. Sông Biala Przemsza chảy qua cồn cát.

Cảnh quan[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh vệ tinh của cồn cát (năm 1968) với dòng sông Biala Przemsza chảy qua giữa

Cồn cát bị chia cắt, bởi một vành đai kéo dài dọc theo lòng sông Biała Przemsza, thành hai phần: phần phía bắc - phần nhỏ hơn và phần phía nam - phần lớn hơn. Độ sâu trung bình của cát là 17–20 m. Cát được làm từ các hạt thạch anh mịn với nhiều mảnh vụn của các khoáng chất khác. Hầu hết chúng thường được đánh bóng. Các điểm tham quan bao gồm các khối fulgurit, hoặc các khối khoáng chất được tạo ra do sự tan chảy của cát bởi sét. Thoạt nhìn, cảnh quan có vẻ đơn điệu, nhưng hình dạng cồn cát nhỏ và thung lũng Biała Przemsza làm tăng thêm sự đa dạng cho khu vực.

Trong số các loại môi trường sống được liệt kê trong Phụ lục I của Chỉ thị Môi trường sống ở cồn cát Błędowska, rất quan trọng đối với Châu Âu, có:

Thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Cồn cát

Trong khu vực có ít hơn 100 loài thực vật (có mạch) thích nghi với đất cát và điều kiện cồn cát động. Ví dụ về các loài bao gồm[1]: Corynephorus Canescens, Sporek mùa xuân, lắc nagołodygowy, Erophila Verna, Ammophila arenaria, cói cátAgrostis capillaris. Các loài hiếm hơn hoặc được bảo vệ bao gồm: Carlina acaulis, Chimaphila umbellata, Cochlearia polonica lá rộngEpipactis helleborine, là một loài đặc hữu địa phương.

Động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Sâu trong cồn cát
Chim ưng

Động vật cồn cát chủ yếu là côn trùng và chim (150 loài). Trong số các loài chim, sơn ca rừngchim chìa vôi là đáng chú ý hơn cả. Ngoài ra còn có Burhinidae - loài chim cồn cát. Sông Biala Przemsza chảy qua giữa cồn cát, qua đó có thể tìm thấy chuột xạ hương, hải ly Lampetra fluviatilis.[1]

Chim chìa vôi

Có những con bọ cánh cứng màu xanh lá cây hoặc màu tím với những đốm trắng trên thân. Trên bãi cát có những con kiến sư tử đang kiếm ăn.[1]

Chim[sửa | sửa mã nguồn]

Loài bò sát[sửa | sửa mã nguồn]

Động vật lưỡng cư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ếch cồn cát

Động vật không xương sống[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cồn cát, nhiều loại sự kiện theo chu kỳ được tổ chức, chẳng hạn như chạy, dã ngoại gia đình, hòa nhạc.[1][5][6]

Điểm tham quan[sửa | sửa mã nguồn]

Đồi Czubatka (382 m so với mực nước biển)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ du lịch trên Czubatka

Đồi Dąbrówka (355 m so với mực nước biển)).[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa hồng gió[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Cồn cát là một khu vực hấp dẫn để đi bộ và cưỡi ngựa. Con đường cưỡi ngựa có thể kể đến như Szlak Pustynny.

Những ngôi làng này cũng kết hợp Đường mòn ngựa Transjurajski, với một nhánh hướng về Chechło (qua phà ở Biała Przemsza), hiện đang đóng cửa do sự can thiệp của quân đội [7].

Sự thật thú vị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên của cồn cát "Błędowska", như một thuật ngữ trong sử dụng địa lý, đã được trao vào năm 1889 bởi Wacław Nałkowski.
  • Ở cồn cát Błędowska, hiện tượng ảo ảnh đã xảy ra một lần [1].
  • Theo truyền thuyết, cồn cát được tạo thành từ cát rải rác bởi ác quỷ, thứ mà ác quỷ muốn che phủ lên mỏ bạc Olkuska.
  • Phim Pharaoh của Bolesław Prus đã hoàn thành một phần ở cồn cát này.
  • Lượng mưa trung bình hàng năm ở cồn cát Błędowska là 726 mm và nhiệt độ trung bình - 7.3 độ C

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cyprian C., Jura Krakowsko-Częstochowska, Bielsko-Biała: Pascal, 2005,ISBN   83-7304-398-5.
  • Szczypek i inni, Pustynia Błędowska - hiện tượng của phong cảnh Ba Lan, Krzeszowice: Kubajak, 2001, ISBN   83-7323-005-x.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]